Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

Thiển ngộ về phương thức Thần tiết lộ thiên cơ

Thiên cơ chính là bí mật của Trời (bí mật của Thần giới), cũng chính là Thiên ý. Thiên cơ có lớn có nhỏ; lớn thì liên quan đến biến hóa của vũ trụ, hưng suy của xã hội và tồn vong của nhân loại; nhỏ thì quan hệ đến vận mệnh của một cá nhân, một đơn vị.

Theo luật Trời, thiên cơ không thể tiết lộ; tuy nhiên để cứu chúng sinh, một số thiên cơ liên quan là có thể tiết lộ, hơn nữa nhất định cần phải tiết lộ. Thần hiển lộ thiên cơ, chính là từ bi đối với chúng sinh! Bởi vì nhân loại hiện tại đạo đức đã bại hoại, lại đang trong thời kỳ tối hậu sắp đương đầu với đại kiếp, cho nên để thật nhiều chúng sinh được đắc cứu, trong hơn 2.000 năm qua, Thần đã thông qua các chủng phương thức để liết lộ với con người thế gian những thiên cơ trọng đại liên hệ tới vận mệnh của toàn nhân loại.

Nói chung, Thần có ba loại phương thức để tiết lộ thiên cơ.

1. Thần Phật hiểu dụ

Đây chính là Thần đem thiên cơ trực tiếp nói rõ với thế nhân. Để lưu cấp cho hậu nhân thiên cơ một cách chính xác, Thần đã lấy hình thức văn tự để ghi lại thiên cơ và bảo lưu chúng.

Trong kinh thư Phật giáo có ghi lại giáo huấn của Phật Thích Ca Mâu Ni như sau: “Nhân loại thời mạt pháp sẽ có đại kiếp nạn, thế nhưng Pháp của ta sẽ không thể cứu độ thế nhân được nữa; khi ấy ‘Chuyển Luân Thánh Vương’ (thiên thượng gọi là ‘Pháp Luân Thánh Vương’, cũng gọi là Di Lặc) sẽ hạ thế truyền Pháp cứu độ chúng sinh. ‘Chuyển Luân Thánh Vương’ là đấng Như Lai có thần thông tối quảng đại trong vũ trụ; Ngài cũng có 32 tướng và 7 báu như một vị Phật, nhưng Ngài không dùng vũ lực, mà dùng chính nghĩa để xoay bánh xe Chính Pháp; Ngài đến để trở thành Lý Tưởng Vương chi phối toàn thế giới. Khi hoa Ưu Đàm Bà La 3.000 năm mới nở một lần khai nở, có nghĩa là ‘Chuyển Luân Thánh Vương’ đang Chính Pháp tại nhân gian.”

Đây chính là thiên cơ mà Thần Phật hiểu dụ thế gian từ 2.500 năm trước đây.

Chương mở đầu «Khải Huyền» của «Thánh Kinh» viết như sau: “Mạc khải của Đức Chúa Jesus, mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài, để tỏ ra cho các đầy tớ Ngài biết những điều sắp xảy đến. Ngài đã sai thiên sứ Ngài đến tỏ cho Giăng đầy tớ Ngài biết điều đó. Giăng đã làm chứng về lời Đức Chúa Trời và về lời chứng của Đức Chúa Jesus, tức những gì ông đã thấy.”

«Khải Huyền» đã dùng rất nhiều dị tượng và ẩn dụ để phác họa một hiện thực mà nhân loại nhất định phải đối mặt: đại chiến Chính-tà tàn khốc, phán xét cuối cùng của Thần, khủng bố, thiên tai và ôn dịch. Đồng thời, «Khải Huyền» cũng miêu tả chính nghĩa ắt sẽ chiến thắng tà ác và chỉ rõ phương hướng mà con người phải tự cứu mình, đồng thời khẳng định vũ trụ sau khi canh tân sẽ trở thành thiện lương, cũng như những người kiên định với tín ngưỡng vào Thần sẽ lên thiên quốc vĩnh hằng. «Khải Huyền» ghi lại thiên cơ mà Thần căn dặn thế nhân từ 2.000 năm trước.

«Cách Am Di Lục» (Ghi chép do Cách Am để lại) cũng là một kỳ thư hiển lộ thiên cơ của Thần. Đây là cuốn sách thần kỳ do học giả Nam Sư Cổ (hiệu Cách Am) của Triều Tiên ghi lại lời một vị Thần tiên trên núi Kim Cương mà ông gặp thời niên thiếu. Cuốn sách này ẩn thân tại thế gian trong 450 năm, mãi cho đến năm 1986, mới được một người họ Tân ở Nam Hàn phá giải mà xuất hiện ở thế gian, từng chấn động một thời. Cuốn sách dùng rất nhiều giấy mực để miêu tả chi tiết về một “Chuyển Luân Thánh Vương” hạ thế truyền Pháp và cứu độ chúng sinh, đồng thời chỉ rõ sự hồng truyền của Pháp Luân Đại Pháp và cuộc đàn áp của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng như rất nhiều tình tiết về đại kiếp nạn mà nhân loại sẽ phải đối mặt. Do đó, «Cách Am Di Lục» ghi lại thiên cơ mà Thần tiết lộ cho nhân loại từ 450 năm trước.

«Tàng tự thạch» (Đá mang chữ) là một tảng đá kỳ lạ có một không hai hiển rõ thiên cơ chấn động thế giới. Năm 2002, tại thôn Chưởng Bố, huyện Bình Đường, tỉnh Quý Châu, Trung Quốc, người ta đã phát hiện ra một tảng cự thạch 200 triệu năm tuổi được khắc sáu chữ lớn. Theo giám định của chuyên gia, sáu chữ lớn này không có dấu vết điêu khắc của nhân công, mà hoàn toàn là tự nhiên. “Tàng tự thạch” mang sáu chữ lớn “Trung Quốc cộng sản đảng vong” chính là do Đấng Tạo Hóa tạo ra từ 200 triệu năm trước, sau đó lăn xuống rồi nứt ra từ 500 năm trước. Đến năm 2002, tảng đá mới thực sự xuất hiện trước thế gian và tiết lộ một thiên cơ trọng đại của Thần.

Như vậy trong hơn 2.000 năm qua, Thần Phật đã hiểu dụ cho con người thế gian những thiên cơ sau: đại chiến Chính-tà, thẩm phán của Thần, Trời diệt Trung Cộng; đại kiếp nạn của nhân loại, đại đào thải; Thánh Vương hạ thế truyền Pháp cứu độ thế nhân, và nhân loại cuối cùng tiến nhập kỷ nguyên mới.

2. Tiên tri dự ngôn

Rất nhiều dân tộc trên thế giới đều lưu truyền các chủng dự ngôn (bao gồm cả truyền thuyết). Dự ngôn là những thiên cơ mà các nhà tiên tri (do Thần phái xuống thế gian) nhìn thấy nhờ công năng của bản thân, rồi họ căn cứ theo hiểu biết của mình để truyền ra thế gian dưới hình thức nào đó. Những dự ngôn này giải thích nội hàm và bổ sung chi tiết các thiên cơ do Thần hiểu dụ từ các góc độ khác nhau, để phù hợp với khả năng tiếp thu của con người thế gian, từ đó gián tiếp tiết lộ thiên cơ.

Rất nhiều triều đại trong lịch sử Trung Quốc đều lưu lại các dự ngôn nổi tiếng. Ví dụ «Càn Khôn Vạn Niên Ca» của Khương Tử Nha thời nhà Chu, «Mã Tiền Khóa» của Gia Cát Lượng thời Tam quốc, «Dự ngôn thi» của Bộ Hư Đại sư triều Tùy, «Thôi Bối Đồ» của Lý Thuần Phong và Viên Thiên Cang thời nhà Đường, «Mai Hoa Thi» của Thiệu Ung triều Tống, «Thiêu Bính Ca» và «Bia ký tại núi Thái Bạch, tỉnh Thiểm Tây» của Lưu Bá Ôn triều Minh, v.v. Còn trên thế giới, có tập thơ «Các Thế Kỷ» của nhà tiên tri nổi tiếng người Pháp Nostradamus, tiên tri của người Maya và thổ dân Hopi ở Bắc Mỹ, v.v. Ngoài ra, rất nhiều dân tộc trên thế giới đều lưu truyền các truyền thuyết về “Thần sẽ trở lại”, chẳng hạn truyền thuyết của người Maya về “khi 13 chiếc đầu lâu thủy tinh bị thất lạc được tập hợp, Thần sẽ trở lại”.

Những dự ngôn lưu truyền từ xa xưa này đều có chung một đặc điểm, đó là sự chuẩn xác trong những lời tiên tri mà lịch sử đã nghiệm chứng. Họ đều cố ý để người đời sau (con người ngày nay) biết được những sự kiện trọng đại xảy ra vào thời mạt pháp tối hậu. Do đó, mục đích cuối cùng của các nhà tiên tri là để giúp con người ngày nay hiểu thấu Thiên ý, phân rõ Chính-tà, tâm hướng Đại Pháp, lánh xa tà ác, để tự cứu mình và hướng về tương lai tươi sáng.

Đối với rất nhiều dự ngôn có liên quan, nếu có dịp tôi sẽ phân tích tường tận. Ở đây chỉ xin đưa ra hai dự ngôn điển hình.

Một là tiên tri của người Maya chỉ rõ: trong vòng 20 năm kể từ năm 1992, Địa cầu sẽ tiến nhập vào “thời kỳ canh tân”. Đây là dự ngôn về năm 1992, Pháp Luân Đại Pháp khai truyền, khiến nhân loại tiến nhập vào thời kỳ nhân tâm tịnh hóa, đạo đức khôi phục; điều này rất phù hợp với thực tế. Dự ngôn này đã chỉ rõ ý nghĩa vĩ đại của sự hồng truyền Pháp Luân Đại Pháp trên toàn thế giới.

Hai là liên quan đến bài thơ «Mai Hoa Thi». Ở bề mặt, chúng ta thấy Thiệu Ung tiên sinh dùng bài thơ này để tiên tri các sự kiện lịch sử trọng đại qua các triều đại Trung Quốc, từ Bắc Tống tới Nam Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Dân Quốc, và Trung Cộng. Thế nhưng hai câu thơ đầu “Đãng đãng thiên môn vạn cổ khai, Kỷ nhân quy khứ kỷ nhân lai” (Dần từ vạn cổ cổng trời khai mở, Hỏi mấy người đến mấy người trở về) đã hiển lộ rõ thiên cơ trọng đại, đó là thiên môn đại khai, Thần Phật lâm phàm. Còn hai câu ở đoạn 9 của bài thơ “Nhất viện kỳ hoa Xuân hữu chủ, Liên tiêu phong vũ bất tu sầu” (Vườn hoa kỳ diệu mùa Xuân có chủ, Mưa gió suốt đêm không phải ưu sầu) miêu tả tình huống Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền và bị bức hại. Cuối cùng, bài thơ dùng “Số điểm mai hoa thiên địa Xuân, Dục tướng Bác Phục vấn tiền nhân, Hoàn trung tự hữu thừa bình nhật, Tứ hải vi gia thục chủ tân” (Hoa mai nở trời đất là mùa Xuân, Muốn rõ Bác Phục hỏi nguyên nhân xưa, Trong hoàn vũ tự hưởng ngày thái bình, Bốn biển ai là chủ ai là khách) để chỉ rõ Đại Pháp tất thành, thiện ác tất báo, con người cuối cùng sẽ thấy ai là vai chính của vũ đài lịch sử. «Mai Hoa Thi» đầu cuối tương ứng, trước hiển lộ cổng trời mở lớn, sau nói rõ Đại Pháp hồng truyền, Chính Pháp tất thành, vũ trụ canh tân, chứng minh rằng an bài trong lịch sử nhân loại đều là vì Pháp Luân Đại Pháp. Do đó, dự ngôn này đã tiết lộ thiên cơ trọng đại về Chính Pháp.

3. Dị tượng cảnh tỉnh

Mấy năm gần đây, các dị tượng trong giới tự nhiên và xã hội nhân loại xuất hiện ngày càng nhiều. Tinh thể mới đột nhiên xuất hiện, hệ Ngân Hà di chuyển ra xa, bốn mặt trời cùng chiếu sáng, tuyết rơi giữa tháng Sáu, loài cóc hợp bầy di chuyển, tượng Thánh rơi lệ, mỏm núi 12 tông đồ đổ sụp, “Đá heo kêu” báo nguy, v.v. khiến người ta hoa cả mắt. Những ai hiểu thấu lý “Thiên-nhân cảm ứng”, thì đều tin rằng những điều này tuyệt không phải ngẫu nhiên, mà là Thần hướng về con người mà chỉ bảo thiên cơ.

Ví dụ, vào năm 2005, mấy ngôi chùa tại Hàn Quốc đua nhau xuất hiện hoa Ưu Đàm Bà La nở, chẳng phải là ấn chứng thiên cơ “Chuyển Luân Thánh Vương” Chính Pháp tại nhân gian mà Phật Thích Ca Mâu Ni tiết lộ ư? Năm 1998, 13 chiếc sọ người bẳng thủy tinh bị thất lạc được tìm thấy, chẳng phải là chứng thực truyền thuyết của người Maya—”Thần sẽ trở lại” hay sao?

Lại như, mấy năm nay Trung Quốc đại lục thiên tai liên miên, nhân họa bất đoạn, rối loạn phát sinh, nguy cơ bốn bề, cộng thêm làn sóng “tam thoái” (thoái đảng, đoàn, đội) kinh thiên động địa, chẳng phải là xác minh thiên cơ trọng đại “Trung Quốc cộng sản đảng vong” khắc trên tàng tự thạch hay sao?

Lại như, năm 2004 phát sinh sóng thần tại Đông Nam Á, mà mấy năm trước đó không ngừng xuất hiện dị tượng Thánh tượng rơi lệ, chảy máu, chẳng phải là cảnh tỉnh đại kiếp nạn mà nhân loại sắp phải đối mặt hay sao?

Sau khi hiểu ra ý nghĩa đằng sau vô số dị tượng này, thì cho dù mỗi người mỗi ý, người ta cũng không thể không thừa nhận đây là một phương thức tiết lộ thiên cơ của Thần đối với nhân loại. Thế nhưng sau khi chứng kiến hết thảy những điều này, có người vẫn chấp mê bất ngộ.

Trước khi kết thúc bài viết này, tôi muốn thử đặt ra một vấn đề: Vì sao “Tàng tự thạch” lại xuất hiện ở Trung Quốc đại lục, chứ không phải nơi khác; mà «Cách Am Di Lục» và hoa Ưu Đàm Bà La lại xuất hiện ở Nam Hàn, chứ không phải Bắc Hàn? Vì sao “Dạ hội mừng năm mới” của Đài truyền hình Tân Đường Nhân lại triển hiện thời thịnh thế huy hoàng của Đường Thái Tông chứ không phải những đấu tranh cung đình trong lịch sử Trung Quốc? Biết bao huyền cơ hiển lộ chẳng lẽ không khiến con người tỉnh ngộ hay sao?

Ấy chính là:

Đại Pháp hồng truyền chính hoàn vũ,
Thần Phật hiểu dụ thấu thiên cơ;
Tiên tri dự ngôn cần tự ngộ,
Dị tượng chấn động tỉnh người mê.

Hoa Ưu Đàm Bà La đua nhau nở rộ

Đường Lý
Dịch từ: zhengjian.org
Nguồn: Chanhkien.org

Không có nhận xét nào: