Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

LUẬN VỀ: CÔNG ĐỨC VÀ PHƯỚC BÁU

1. Mở đầu
Trong quá trình tu hành, nhiều người thường nói đến công đức và phước báu, nhưng không phải ai cũng phân biệt rõ hai khái niệm này. Vì không hiểu công đức là gì, phước báu là gì nên có thể hành trì rất nhiều nhưng không biết mình đang tạo công đức hay tạo phước báu. Có người hành phước nhưng không hiểu vì sao mình được phước. Có người hành công đức nhưng lại không nhận ra công đức của mình nằm ở đâu.
Muốn hiểu đúng vấn đề, trước hết cần làm rõ hai câu hỏi: Thế nào là công đức?; Thế nào là phước báu? Từ đó mới có thể biết hành gì thì được công đức và hành gì thì được phước báu.

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

KHÁI LUẬN VỀ HAI CHỮ: VŨ TRỤ

"Không gian là thuộc tính của chân không, được biểu hiện bởi chân không, nơi nào có chân không thì nơi đó có không gian, nơi nào có không gian thì nơi đó chính là chân không". (Tuyên bố số 35 - Sự thật về Vũ Trụ)
"Thời gian là thuộc tính của Linh Quang". (Tuyên bố số 53 - Sự thật về Vũ Trụ)
1. Mở đề
“Vũ Trụ” là một từ rất quen thuộc. Hằng ngày chúng ta nói đến Vũ Trụ, nghiên cứu Vũ Trụ, tìm hiểu nguồn gốc Vũ Trụ. Nhưng có một điều rất thú vị: Vũ Trụ là gì, nếu nhìn ngay từ cấu tạo của hai chữ “Vũ” và “Trụ”. “Vũ Trụ” là từ Hán Việt, viết là 宇宙. Vũ (宇) thường được hiểu là không gian, là cái bao trùm bốn phương, trên dưới. Trụ (宙) thường được hiểu là thời gian, là sự nối tiếp trước sau, quá khứ, hiện tại và tương lai. Như vậy, ngay trong hai chữ “Vũ Trụ” đã hàm chứa hai phương diện căn bản của thế giới mà con người đang sống: không gian và thời gian.
Nhưng vấn đề sâu xa hơn là: không gian và thời gian từ đâu mà có? Nếu Vũ là không gian, Trụ là thời gian, thì Vũ Trụ có phải chỉ là toàn bộ vật chất tồn tại trong không gian và thời gian hay không? Hay đằng sau không gian và thời gian còn có một nền tảng sâu hơn? Đây là vấn đề đáng để chúng ta suy ngẫm.

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

NHÂN, DUYÊN, PHÁP, VÔ NGÃ, THẬT TƯỚNG

1. Đặt vấn đề
Muốn hiểu lý nhân duyên của các pháp một cách có hệ thống, không thể chỉ dừng lại ở mệnh đề “các pháp do duyên sinh”. Cần đi sâu vào năm khái niệm căn bản: nhân, duyên, pháp, vô ngã và thật tướng.
Năm khái niệm này có quan hệ mật thiết với nhau. Nhân và duyên giải thích điều kiện để một pháp được thành lập. Pháp là cái được nhận biết, phân biệt và gọi tên. Vô ngã chỉ ra rằng cái pháp được thành lập ấy không phải một thực thể độc lập, tự tồn. Còn thật tướng là vấn đề được đặt ra khi vượt khỏi cách nhận biết dựa trên sự phân biệt thông thường. Muốn hiểu được mối quan hệ ấy phải bắt đầu từ một câu hỏi căn bản: Một pháp hình thành như thế nào?

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

NIỆM PHẬT VÀ TỨ NIỆM XỨ

1. Mở đầu
Niệm Phật là một pháp hành quen thuộc đối với nhiều người tu học Phật. Tuy nhiên, khi đi sâu vào thực hành, người hành trì thường gặp những vấn đề cần được làm rõ: Vì sao niệm danh hiệu “Nam mô A Di Đà Phật” lại có tác dụng khác với Tứ Niệm Xứ? Niệm Phật có cần đạt đến trạng thái vô niệm tự niệm hay không? Và thế nào là nhất tâm bất loạn?
Để làm rõ những vấn đề này, trước hết cần phân biệt giữa vọng tâm và chân tâm, giữa thiền chỉ và thiền quán, đồng thời cần hiểu đúng trạng thái tâm khi hành giả chuyên nhất niệm danh hiệu Phật.

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

CHUYÊN KHẢO: MINH TRIẾT VIỆT

Từ cái nhỏ của hình thức đến cái lớn của tâm thức.
Tác giả: Hoàng Lạc
-0-
Lời Nói Đầu
Có một câu hỏi tưởng như đơn giản nhưng lại chạm đến một vấn đề rất sâu của dân tộc: Việt Nam có thực sự “nhỏ” không? Nhỏ về diện tích? Có thể. Nhỏ về dân số? So với những quốc gia hàng đầu thế giới, có thể. Nhỏ về quy mô kinh tế, những thành phố, những công trình, những đại học, những trung tâm khoa học và công nghệ? Trong nhiều phương diện, chúng ta vẫn còn phải phấn đấu rất nhiều. Nhưng nếu lấy những tiêu chuẩn ấy để đo toàn bộ tầm vóc của một dân tộc thì liệu có công bằng?
Một dân tộc không chỉ được đo bằng diện tích lãnh thổ, tổng sản phẩm quốc nội, chiều cao của những tòa nhà hay độ dài của những đại lộ. Một dân tộc còn được đo bằng chiều sâu tâm thức, sức sáng tạo văn hóa, khả năng chịu đựng nghịch cảnh, đạo lý sống, cách nhìn về con người và khả năng tạo ra ý nghĩa cho sự tồn tại.
Có những quốc gia rất lớn về lãnh thổ nhưng chưa chắc lớn về văn hóa. Có những dân tộc không lớn về hình thức nhưng lại để lại cho nhân loại những tư tưởng có sức sống hàng nghìn năm. Vì thế, vấn đề quan trọng không phải là: Việt Nam lớn hay nhỏ? Mà là: Ta đang dùng thước đo nào để đo cái lớn của Việt Nam?
Đây chính là điểm khởi đầu để suy nghĩ về Minh triết Việt.

MINH TRIẾT VIỆT (9)

Chương IX:
HỆ GIÁ TRỊ CỐT LÕI CỦA MINH TRIẾT VIỆT VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG THẾ KỶ XXI
1. Mở đầu
Qua các chương trước, chuyên khảo đã lần lượt khảo sát nguồn gốc của Minh triết Việt, nền tảng văn hóa bản địa, sự tiếp biến với Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo, nhân sinh quan, tư tưởng trị quốc, cũng như vai trò của Minh triết Việt trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo và toàn cầu hóa.
Từ những phân tích đó có thể nhận thấy rằng Minh triết Việt không phải là tập hợp rời rạc của các kinh nghiệm sống, mà là một hệ giá trị được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử. Hệ giá trị ấy không chỉ phản ánh quá khứ mà còn có khả năng định hướng tương lai.
Trong bối cảnh đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mới, việc nhận diện và hệ thống hóa những giá trị cốt lõi của Minh triết Việt có ý nghĩa quan trọng đối với giáo dục, văn hóa, khoa học, quản trị và phát triển con người.

MINH TRIẾT VIỆT (8)

Chương VIII:
MINH TRIẾT VIỆT TRONG KỶ NGUYÊN AI VÀ TOÀN CẦU HÓA
1. Mở đầu
Nhân loại đang bước vào một thời đại có tốc độ biến đổi nhanh chưa từng có. Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), công nghệ sinh học, robot và điện toán lượng tử đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị, học tập và giao tiếp. Trong bối cảnh ấy, nhiều người đặt câu hỏi: liệu những giá trị truyền thống có còn ý nghĩa? Câu trả lời của chuyên khảo này là: càng hiện đại, con người càng cần một nền minh triết để định hướng.
Khoa học giúp con người biết làm gì. Công nghệ giúp con người biết làm nhanh hơn. Nhưng chỉ có minh triết mới giúp con người trả lời câu hỏi làm vì điều gì và làm như thế nào để không đánh mất chính mình. Đó chính là ý nghĩa của Minh triết Việt trong kỷ nguyên AI.

Sự hoàn hảo của quy luật

Sự hoàn hảo của quy luật không đồng nghĩa thực tại phải tiến tới một trạng thái hoàn hảo tĩnh. Ngược lại, chính các quy luật hoàn hảo có thể làm cho một trạng thái hoàn hảo tĩnh không thể được duy trì. Quy luật hoàn hảo không nhất thiết tạo ra một thực tại bất động hoàn hảo; quy luật hoàn hảo có thể chính là nguyên nhân khiến thực tại không thể đóng băng trong một trạng thái cuối cùng. Sự hoàn hảo của hệ nằm ở khả năng tự sinh thành, tự điều chỉnh, tự rời cân bằng vừa đạt và tiếp tục vận động mà không cần ngoại lực hay sự can thiệp tạo tác.
Quang Vô Sắc

TRỊ QUỐC VÀ XÂY DỰNG QUỐC GIA

1. Mở
Một quốc gia muốn trường tồn không chỉ cần kinh tế mạnh, quân đội mạnh hay công nghệ hiện đại. Quan trọng hơn, quốc gia ấy phải có một nền minh triết trị quốc.
Nếu nhân sinh quan trả lời: Con người nên sống như thế nào? thì tư tưởng trị quốc trả lời: Đất nước phải được tổ chức và điều hành ra sao để Nhân Dân được an cư, xã hội phát triển và quốc gia trường tồn?
Trong lịch sử Việt Nam, cha ông chưa xây dựng một hệ thống triết học chính trị hoàn chỉnh, nhưng qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã hình thành nhiều giá trị sâu sắc về trị quốc.

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

MINH TRIẾT VIỆT (7)

Chương VII:
MINH TRIẾT VIỆT TRONG TƯ TƯỞNG TRỊ QUỐC VÀ XÂY DỰNG QUỐC GIA
1. Mở đầu
Mọi nền văn minh bền vững đều được xây dựng trên một nền minh triết trị quốc. Nếu nhân sinh quan trả lời câu hỏi con người nên sống như thế nào, thì tư tưởng trị quốc trả lời câu hỏi một quốc gia phải được tổ chức và điều hành như thế nào để nhân dân được an cư, xã hội phát triển và đất nước trường tồn. 
Trong lịch sử Việt Nam, tuy không hình thành một hệ thống triết học chính trị hoàn chỉnh như một số nền văn minh khác, nhưng qua thực tiễn dựng nước và giữ nước, cha ông đã để lại nhiều tư tưởng sâu sắc về quản trị quốc gia. Những tư tưởng ấy được thể hiện trong các triều đại, các bộ luật, các áng văn chính luận, các lời dạy của các bậc hiền triết và trong chính đời sống của Nhân Dân. 
Điểm nổi bật của Minh triết Việt là không xem quyền lực là mục đích, mà xem hạnh phúc của Nhân Dân và sự bền vững của quốc gia là mục tiêu cao nhất của việc trị nước.