Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

VẤN ĐỀ CON NGƯỜI

Xã hội vật chất và sự gắn kết với tự nhiên

Trong một xã hội ngày càng phát triển về mặt vật chất, con người đang cảm thấy lạc lõng giữa vô vàn phương tiện mà chính mình đã tạo ra. Người ta cảm thấy đánh mất sự gắn kết với thiên nhiên, với vũ trụ, và thậm chí với chính bản thân. Sự phát triển nào cũng có sự thoái trào của nó, vật chất cũng vậy. Khi bị bủa vây giữa muôn trùng công việc, giữa những suy nghĩ bề bộn, những toan tính trong việc thăng tiến, giác quan của con người với cuộc sống gần như mất đi. Người ta có thể nhốt mình giữa bức tường kín, đọc các báo cáo kinh tế với đầy rẫy những con số, xem những video sex, bật loa hết cỡ để nghe những ca khúc đang thịnh hành. Nhưng liệu họ có thể duy trì việc đó trong bao năm?

Hầu hết ai cũng biết cốt lõi của con người là phải gắn bó với tự nhiên, vì chính xã hội loài người là một phần của thế giới này. Khi một xã hội phát triển vật chất tới một mức cần thiết, xã hội đó về cơ bản là tốt, và phần lớn những thành phần trong xã hội đó sẽ có sự no đủ. Nhưng trong lịch sử, chưa có một xã hội nào chịu ngừng phát triển khi đã đạt tầm thịnh vượng. Luôn có sự ích kỷ trong tầng lớp lãnh đạo. Khi thực lực đã có đủ, những tầng lớp lãnh đạo sẽ tìm cách để quyền lực và khả năng sở hữu tài sản của mình được tăng lên đến mức có thể. Về cơ bản, lòng tham của con người là vô đáy, một khi lòng tham nổi dậy, hàng trăm hàng ngàn sự tham khác sẽ tiếp nối. Điều đó giải thích tại sao các cuộc chiến tranh thế giới nổ ra. Một phần vì nhu cầu trong nội địa quá lớn, phần còn lại vẫn là do lòng tham của các tập đoàn tư bản, các tập đoàn thống trị. Sự thịnh vượng của dân tộc giờ đây bị sự thịnh vượng của tập đoàn điều chỉnh. Sự xung đột về lợi ích là cốt chính của các cuộc chiến tranh, nhưng liệu sự thắng lợi có giải quyết được mọi vấn đề?

Nước chiến thắng sẽ được đất, được bồi thường chiến phí, nhưng những tập đoàn ấy lại tiếp tục bóc lột công nhân, và một hình thức nô lệ mới, nô lệ tinh vi hơn được tiếp tục diễn ra. Đứng trên cách nhìn tổng thể thì xã hội phát triển được là nhờ lòng tham, một chế độ không thể nào thỏa mãn hết lợi ích của tất cả các nhóm. Hậu quả là nhóm đối lập sẽ bị tiêu diệt để nhường của cải và lợi ích cho nhóm chiến thắng. Nếu mọi người để ý, thì sự phát triển của thế giới từ xưa đến nay là vậy, chinh phục và tiêu diệt. Và sự phát triển chỉ có trên tàn tích chiến tranh.

Nhưng sự phát triển như thế là một nguy cơ lớn đối với loài người. Khi nhân loại ngày càng văn minh, những giá trị nhân đạo ngày càng được chú trọng, thì việc chinh phạt và tiêu diệt sẽ đe dọa những giá trị mà con người tuyên bố và đang thực hiện: sự bảo tồn văn hóa của các nhóm người thiểu số, những vùng đất bản địa, những khu vực thiên nhiên đa dạng. Sẽ không thể bảo tồn văn hóa quốc gia nào nếu không tồn tại con người của nền văn hóa ấy. Nhưng sự tồn tại một nền văn hóa bản địa lại là mối đe dọa tiềm ẩn của kẻ chinh phục. Điều đó giải thích tại sao có sự mất đi dần dần của các nhóm văn hóa, dù là sự mất đi âm thầm hay công khai.

Xã hội mới đưa con người rời xa thiên nhiên, nhốt con người vào những “chuồng cu”, và bắt con người quen với cách sống “sáng đi chiều về”. Con người sẽ không thể tồn tại nếu cứ cung cấp protein và bắt họ sử dụng những gì nhân tạo mãi được. Lúc đó, con người sẽ chết đi, ít nhất là mặt tinh thần. Nhưng cái chết về tinh thần mới là vấn đề nguy hiểm nhất.

Trái đất này là sự tập hợp của nhiều sự sống. Sự nhân đạo được hiểu rộng không chỉ cho con người, nếu chỉ vì cung cấp cho loài người những điều kiện sống mà tiêu diệt đi những sự sống khác thì thật là phiến diện và không công bằng. Khi sự mất công bằng đạt đến một ngưỡng nhất định thì thảm họa sẽ xảy ra. Thực tế đã chứng minh được điều đó: cháy rừng, hạn hán, thiên tai, vỡ đê… Khi quả đất mất đi sự cân bằng, quả đất sẽ tự cân bằng và lấy lại những gì đã mất. Nên nhớ rằng con người cũng chỉ là những loài vi khuẩn trên địa cầu này. Và quả đất này cũng là một sự sống âm thầm. Có những thực tế mà nhiều chính quyền không dám nêu ra, khi mà những đầu đạn hạt nhân của Nga và Mỹ đột nhiên bị mất công dụng sau một thời gian chôn giữ dưới lòng đất. Trái đất sẽ không để bản thân mình bị hủy hoại bởi một đám sinh vật tự cho mình có quyền điều khiển thế giới.

Có quá nhiều bí mật của thiên nhiên mà con người không thể giải đáp được, và để giải thích, người ta cho rằng đó là sự ngẫu nhiên, nếu nghiên cứu khoa học mà nói như vậy thì ai nói cũng được.

Không đi đâu quá xa xôi, các bạn hãy thử trắc nghiệm một tí: suy nghĩ của con người bị ảnh hưởng rất nặng nề của sự nhân đạo.

Nếu bạn suy nghĩ về những điều tốt đẹp: làm cách nào để giúp đỡ một ai đó, chiều nay mình phải đi trồng cây trên khu đồi trọc, sự phóng sinh….thì đầu óc của bạn rất dễ chịu. Còn nếu bạn đang suy nghĩ về việc phải đối phó thế nào với đồng nghiệp, phải làm cách nào để gạt bỏ những người còn lại và lấy lòng sếp, hoặc việc lựa thời điểm để đầu cơ thì hẳn nhiên đầu óc của bạn sẽ vô cùng nặng nề. Nếu bạn cứ giữ và nuôi dưỡng những ý nghĩ như vậy đảm bảo một thời gian không dài nữa chính bạn sẽ bị căng thăng và bị mớ suy nghĩ đó chi phối.

Những tác dụng của những suy nghĩ ấy giải thích tại sao những thiền sư và những phật tử luôn luôn thoải mái về tâm trạng và sống lâu. Ngược lại có nhiều triệu phú đã sớm phải vào viện tâm thần.

Xem ra cuộc đời rất vô thường, nay thế này mai thế kia, khó có cách nào mà lường trước được. Hẳn các bạn biết nhà văn kiếm hiệp Kim Dung, một trong những nhà văn giàu nhất đương thời. Lúc đó bên HongKong cũng có một người khác nổi tiếng trong ngành văn hóa nghệ thuật nữa, ông kiếm khá bộn bạc từ việc làm họa sỹ cho những tác phẩm truyện tranh comic nổi tiếng, phần lớn những truyện đó đều đã được xuất bản ở Việt Nam: Long hổ môn…. Đương thời, ông rất giàu có, nguyên một khu phố đều là của ông đến nỗi một phóng viên của một nhật báo HongKong phải hoảng hốt khi tận mắt chứng kiến nhiều tiệm cầm đồ lớn đều là của ông. Vậy mà chưa tới 10 năm sau, số tài sản ấy đã biến mất hoàn toàn. Ông ta liên tục thua cuộc trong những ván bài lớn, và phải lấy các cửa hàng và bất động sản ra gán nợ. Cho đến khi cục diện thay đổi hoàn toàn thì ông đã trở thành một người ăn xin, vất vưởng sống qua ngày, khi chết cũng không có đất để chôn.

Ai cũng hiểu chết là trở về với cát bụi, mà mấy ai tự nhìn lại để sống thế nào cho tốt.

Trước năm 1975, miền Nam Việt Nam có một ông chủ lớn. Ông khởi nghiệp từ việc buôn bán đồng hồ cao cấp, lúc ấy đồng hồ là một thứ tài sản có giá trị để trưng diện. Ông nhanh chóng phất lên, và mở rộng sang nhiều lĩnh vực. Tới thời điểm cực thịnh, ông làm chủ tới năm xưởng sản xuất gạch bông và nhiều cơ sở kinh doanh khác. Khi giàu có tới một mức nào đó, người ta bắt đầu thèm khát quyền lực. Ông ta cũng vậy, và ông ta quyết định ra tranh cử với tổng thống Thiệu.

Lúc đó ở miền Nam có rất nhiều người đói kém, thậm chí số lượng chết đói hằng ngày không sao đếm xuể. Một số nhóm sinh viên đại học có lòng từ tâm đứng ra để quyên góp tiền bạc của những người có khả năng với mục đích “Lá lành đùm là rách”. Khi nhóm sinh viên tình nguyện tới quyên góp, họ đã gặp ngay sự phản ứng dữ dội của ông trước mục đích của việc làm từ thiện. Ông nói thẳng một câu “Mấy đứa đó có tay chân mà không tự làm được thì để cho nó chết”.

Ông ta rất keo kiệt, chưa bao giờ giúp ai. Và rồi việc gì đến cũng đến. Chính trị là một trò chơi từ dưới lên trên, muốn thành công phải leo từ thấp lên cao, việc một nhà tài phiệt ỷ mình giàu có chen ngang mà không có những người bên trong đỡ đầu quả là một việc thiếu suy nghĩ. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, ông đã dính bẫy của tổng thống Thiệu, ông bị dính tội đầu cơ và bị chính phủ tịch biên tài sản. Quãng đời sau của ông cũng kết thúc bằng sự xin ăn mà ông từng nói: “Chúng nó có tay chân mà không tự làm được thì để cho nó chết”.

Vấn đề quan trọng nhất của con người vẫn là tồn tại, nhưng tồn tại để làm gì vẫn chưa có câu trả lời thấu đáo. Nhưng muốn làm được gì, bản thể và khối óc của con người phải được tiếp năng lượng. Ngay cả Đức Phật Thích Ca cũng vậy, sau 6 năm dài tu theo lối khổ hạnh không đạt được kết quả gì, ngài đã nhận ra được việc trung hòa lối sống là một phương pháp để đến kết quả. Nhiều người cho rằng sống để ăn, nếu xác định như vậy thì ắt hẳn phần đời sau của người đó sẽ phải khốn khổ trong việc tìm được những món ăn mà họ cho là ngon, là bổ. Nếu bạn theo đuổi một mục đích nào, dù là cao cả hay thấp hèn thì một lối sống trung hòa vẫn là sự lựa chọn tốt nhất. Việc trung hòa lối sống càng đúng trong cho những trường hợp tìm kiếm hay sáng tạo những giá trị tinh thần: tập thiền, viết văn, nghiên cứu văn hóa….

Một xã hội thịnh vượng là một xã hội phải đảm bảo được sự no đủ đa phần của các tầng lớp dân cư, chứ không phải là một xã hội với những tòa cao ốc chọc trời nhưng ngay bên dưới thềm đá hoa cương là những người vô gia cư đang xin ăn. Xã hội hiện nay tồn tại nhiều ngịch lý, hàng tỷ vốn viện trợ nước ngoài vẫn đổ vào các quốc gia đang phát triển nhưng hệ thống trạm xá, trường học, điện nước vẫn tiếp tục xuống cấp. Vậy mà các công trình lớn vẫn mọc lên như nấm, và dòng tiền viện trợ chảy đi đâu thì đố ai trả lời chính xác.

Liệu tương lai loài người có đi đến diệt vong để nhường chỗ cho một dạng thức sống mới thay thế? Cũng có thể lắm chứ, và điều đó là chắc chắn nếu chúng ta tiếp tục thực hiện những hành động mà lâu nay chúng ta vẫn làm. Những nền văn minh cổ đại từng sụp đổ khi sự phát triển vật chất lên đến đỉnh điểm.

Trong thời kỳ vật chất phát triển như vũ bão thì những giá trị tinh thần bị xem nhẹ, để đến khi những giá trị tinh thần tích tụ đủ và sẽ xảy ra sự đảo ngôi. Những phương tiện do con người tạo ra phần lớn là có ích cho sự phát triển loài người, nhưng nếu những phương tiện ấy được những đầu óc và thế lực không tốt sử dụng cho mục đích kéo lùi bước tiến nhân loại thì quả thật là thảm họa. Xã hội con người đang đứng trước một thảm họa như thế. Tại sao? Tại sao xã hội lại tồn tại những con người có những luồng suy nghĩ nguy hiểm như thế? Tại sao có Hittle, PolPot, tại sao thế hệ trẻ ngày nay thường xuyên gây ra những cuộc thảm sát, tự tử, ma túy, bạo lực?

Bởi vì chúng bị trói buộc trong cuộc sống, bị những thứ vật chất vây quanh, bị trói buộc tinh thần, bị nhồi nhét những suy nghĩ bẩn thỉu và vớ vẩn, bị kìm hãm tự do, và cơ bản là quá xa rời thiên nhiên. Mối quan hệ gốc của con người vẫn là với tự nhiên. Khi bị bủa vây trong thế giới vật chất, trong những sản phẩm của nền văn minh, đầu óc con người thường trở nên cực đoan, nguy hiểm. (Trong khi đó, đứng trước thiên nhiên, con người dần cảm nhận và hòa mình vào cuộc sống xung quanh.) Những thảm họa tương lai ấy, chính chúng ta có thể ngăn chặn được. Để tránh sự thoái trào của vật chất, chính bản thân mỗi chúng ta phải tự cân bằng. Giá trị vật chất và tinh thần phải gắn kết, và nhất thiết không được xa rời tự nhiên.

Đi vào các bản kinh cổ Pali để tìm hiểu nguồn gốc con người

Luận thuyết tiến hóa của Darwin cho rằng loài người tiến hóa từ loài vượn nhưng hiện nay luận thuyết ấy đang lung lay đến tận gốc rễ. Chưa ai dám chắc chắn rằng con người tiến hóa từ loài vượn.

Hàng ngày, khắp nơi trên thế giới càng có nhiều công trình nghiên cứu, cả về khoa học lẫn tâm linh đều phản bác lý thuyết trên. Không nói chi đâu xa xôi, ngay ở nước Mỹ, nơi có nền văn minh vật chất phát triển nhất cũng bác bỏ luận thuyết Darwin. Dân Mỹ đang cười chê và gán cho Darwin chính là một con vượn tiến hóa. Vậy mà hiện nay nhiều nền giáo dục vẫn còn dạy phổ thông một luận thiết đang ngày càng lung lay mà lẽ ra chỉ nên xem nó như một tài liệu tham khảo bổ sung.

Con người không thể tiến hóa từ loài vượn, trước hết chúng ta biết chắc rằng bao thế hệ nay, chính con người đã sinh ra con người chứ không phải là khỉ hay vượn. Trên trái đất này hiện chỉ có con người mới có ngôn ngữ và văn hóa. Nếu loài người tiến hóa từ loài vượn thì loài gì tiến hóa thành loài vượn và loài người sẽ tiến hóa thành loài gì?

Trong các hệ thống triết học Phương Đông, thế giới loài người được xem là một thế giới tạm, một nơi trung chuyển để tiến tới các cõi siêu hình khác. Nhiều người phủ nhận các cõi siêu hình nhưng họ đã thấy chưa? Người ta cho rằng “Tiên, Thần, Phật…” là do con người đặt ra. Đúng vì Tiên, Phật, Thần chỉ là các cái tên, là cách gọi để phân biệt. Vì văn hóa của loài người là phân biệt nên muốn truyền đạt một điều gì đó cho người khác hiểu cũng cần có một cái tên và sự mô tả. Các cõi siêu hình không có tên, chỉ có những đặc tính, và con người muốn phân biệt nên mới đặt ra những cái tên để gọi.

Khi người ta bàn đến vật chất và tinh thần, nhiều người hỏi rằng: Người ta nói có cõi Tiên, cõi Phật ở trên kia. Tại sao khi bay lên bằng máy bay hay tàu vũ trụ lại không thấy? Xin mạn phép trả lời: Làm sao bạn có thể thấy thế giới siêu hình khi bạn đang đi trong thế giới vật chất? Cho dù bạn đang bay lên cao bằng phi cơ hiện đại, ra ngoài vũ trụ bằng hỏa tiễn hàng tỉ USD thì bạn cũng đang đi trong thế giới vật chất. Bạn chỉ có thể hiểu biết về thế giới siêu hình nếu chính bản thân bạn tự trải nghiệm và thành tâm. Các nhà khoa học Nhật Bản hiện có một số công trình khoa học xác nhận linh hồn con người tồn tại tương tự như một dạng sóng vô tuyến, hiện họ đã thành công trong việc giao tiếp bằng các thiết bị thu sóng. Nếu vậy thì thế giới của các linh hồn, các thế giới siêu hình thậm chí đang tồn tại song song, tồn tại ngay trước mặt ta mà chúng ta không biết. Đơn giản tại vì thế giới chúng ta và thế giới siêu hình tồn tại dưới các dạng khác nhau. Chỉ khi nào có sự biến cố đột ngột nào đó mới xảy ra các hiện tượng giao thoa mà bất chợt một con người với mắt thường đột nhiên thấy được một thế giới khác lạ với các đặc điểm giống như ở thế kỷ 15.

Trên thế giới có nhiều người trải qua một tai nạn kinh hoàng, và khi tỉnh dậy họ xác nhận họ là một con người trong quá khứ. Không ai còn dám nghi ngờ khi chính họ đã sử dụng những thứ ngôn ngữ cổ mà hiện tại không còn được dùng, kể lại lai lịch bản thân và những câu chuyện đã xảy đến với họ. Chắc chắn một linh hồn trong quá khứ đã gá vào thân của người bị tai nạn.

Trong các bản kinh cổ được ghi chép bằng tiếng Pali, Đức Phật có nói về thời kỳ mà chúng ta đang sống. Theo đó “Thời kỳ đạo” của ngài kéo dài 5000 năm, và chúng ta đang ở 1000 năm thứ 3, thời kỳ được ngài cho rằng có sự bùng nổ rất lớn về dân số. Theo những ghi chép lời của ngài lúc còn mang thân thì việc hiện hữu nhiều con người đến như vậy là do có sự độn lên của các chủng loài sau khi hết thời gian ở bên dưới và các chư tiên hết phước bị đày xuống (“Đày” ở đây là cách gọi việc chuyển tới các cõi khác do duyên nghiệp nhân quả chứ không phải do một thế lực nào đó ép buộc).

Gần 3000 năm trước, khi dân số địa cầu rất ít, nhiều quốc gia còn không biết tới sự tồn tại của nhau, vậy mà ngài đã có một cái nhìn rất ít sai lệch về thế giới hiện tại. Hãy thử nhìn về thế giới hiện tại, có những người rất tàn ác và mải sống theo danh lợi. Liệu họ có phải do những chủng loài bên dưới độn lên đầu thai?

Sinh tử luân hồi, một điều kiện bắt buộc để xã hội loài người tiếp tục phát triển và tồn tại. Dẫu ai cũng muốn bất tử nhưng ai cũng phải chấp nhận sự thật này. Đừng nghĩ trăm năm tồn tại của mỗi con người là ít, hãy nhìn lại những dạng sống khác, vài tháng, vài ngày, thậm chí là sinh ra và chết đi trong ngày. Con người tồn tại để làm gì vẫn là một bí ẩn lớn nhất của vũ trụ. Khi Đức Phật còn tại thế, có nhiều tỳ kheo đã hỏi Đức Phật về việc ấy và ngài cũng bảo đó là một bí mật mà các tỳ kheo phải trải qua, phải tu tập và chứng tới. Người xác định “Ái dục là nguồn gốc của sinh tử luân hồi” và điều đó là hoàn toàn chính xác. Tình dục là căn bản để truyền giống, và “ái” là sợi dây để gắn các mối liên hệ. Xã hội sẽ không là xã hội nếu không có các mối liên hệ. Trên một cái nhìn lịch sử thì “ái” của loài người đã có một quá trình phát triển từ những trạng thái sơ khởi (khi loài người còn tổ chức thô sơ) đến các dạng thức cao cấp phức tạp. Vòng quay của xã hội cũng là vòng quay bánh xe luân hồi.

Xét về sự truyền giống trên khía cạnh khoa học, phải có sự kết hợp giữa tinh của đàn ông và khí huyết của phụ nữ. Nhưng liệu cứ phải có 2 điều đó là có sự ra đời của một con người mới. Không phải vậy, điều đó thể hiện rõ ở hàng trăm hàng ngàn cặp vợ chồng không hề sinh được con và không phải lần kết hợp nào cũng có thể sinh con. Nền móng cốt lõi giữa tinh và khí huyết để hình thành nên một con người mới chính là linh hồn mà Phật giáo đề cập. Chỉ có một linh hồn nào đó gá vào đúng lúc sự kết hợp giữa đàn ông và phụ nữ mới tạo thành bào thai được.

Chính vì điều đó mà thi thoảng con cháu của chúng ta lại giống hệt một ai đó trong ông bà tổ phụ. Đó là vì con người mới kia vẫn còn lưu giữ lại những thói quen trong những tiền kiếp. Đừng bất ngờ nếu một ngày nào đó bạn nhận ra một ai đó giống với những người thân thiết đã mất đi trong quá khứ với một mức độ kinh khủng.

Nguyễn Quốc Bửu

Không có nhận xét nào: