Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

THẬP ĐẠI CHÂN NGÔN DUY NGÃ SỞ HỮU THUYẾT

"Đã là Phật tử nhất định phải biết Đức Phật như thế nào. Hãy tận thu những gì tôi truyền đạt trong bộ pháp này. Nam mô thập phương tam thế nhất thiết Chư Phật tác đại chứng minh!"

PHẨM MỞ ĐẦU.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật! Dạ con chào Thầy! Xin Thầy vui lòng cho con hỏi.
Trong Duy Thức học con thường nghe nói về năm Tâm Pháp gồm: (1) Tâm Pháp là A Lại Da Thức; (2) Tâm Sở Hữu Pháp là Mạc Na Thức; (3) Sắc Pháp; (4) Tâm Bất Ư Hành Pháp; (5) Tâm Vô Vi Pháp. Ba Tự Tánh gồm có: (1) Y Tha Khởi Tánh; (2) Biến Kế Sở Chấp Tánh; (3) Viên Thành Thật Tánh. Bát Thức gồm có: (1) Nhãn Thức; (2) Nhĩ Thức; (3) Tỷ Thức; (4) Thiệt Thức; (5) Thân Thức; (6) Ý Thức; (7) Mạc Na Thức; (8) A Lại Da Thức. Và cuối cùng là Vô Ngã...

Nhưng con không hiểu rõ nó có ý nghĩa như thế nào, cách vận hành của nó ra sao, làm thế nào nhận biết một cách chính xác trong chúng; cái nào chi phối ta, cái nào là vọng tâm của ta, cái nào là chân tâm của ta; ta phải điều phục từ đâu để dứt sạch vọng tâm, thấy được tánh của mình.

Xin Thầy hoan hỷ cho con một vài ví dụ để nhận biết các thứ đó rõ ràng ạ, nhằm giúp cho những kẻ ti tập sơ cơ không lạc vào ma đạo, xa rời chánh kiến, uổng mất tâm huyết một lòng cầu đạo giải thoát ạ.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho à! Sự phân biệt thế gian đã rối lắm rồi. Người thuyết pháp sao còn xé nhỏ tâm ra thành nhiều mảnh làm chi cho thêm phức tạp. Muốn xé nó ra bao nhiêu mảnh mà chẳng được. Chẳng phải vậy hay sao. Ngày xưa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có xé tâm ra nhiều mảnh như vậy đâu. Sau đó, các Nhà luận sư lại tìm cách xé nhỏ nó ra. Kẻ hậu học lần theo nó cả đời chẳng tu được gì. Biết rồi đã sao. Cũng chỉ là chạy theo những cái hư vọng mà thôi. Biết hư vọng thì chỉ cần phân ra theo nhóm có đặc điểm riêng, để mỗi nhóm thành một cục là được. Ví như nước, chỉ cần phân ra ba nhóm gồm nước ngọt, nước lệ, nước mặn là được. Việc gì phải phân nước mặn thành nước mặn lớp trên, nước mặn lớp giữa, nước mặn lớp dưới. Nước ngọt, nước lệ cũng như vậy.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi thuyết giảng pháp gì cũng có dụng ý và tính khả thi đem lại lợi ích đích thực. Ngài là người có biện tài vô ngại, thấu rõ mọi thứ. Ngài chẳng xé nhỏ thì ta cũng phải biết xé nhỏ chẳng được lợi ích gì. Cớ sao lại phải xé nó ra nhỏ hơn. Chỉ có kẻ không biết làm thế nào để chúng sinh được lợi ích nên mới làm như vậy mà thôi.

Cho nên, tôi không có tìm hiểu kỹ về Duy Thức học. Càng không có thời gian tìm hiểu và cũng không cần tìm hiểu nhiều. Chỉ có đọc lướt qua một ít, nhận thấy không cần phải đọc tiếp. Học nó chỉ để làm sang mà thôi, chẳng lợi ích thật sự (Đây là ý kiến của riêng tôi).

Tôi còn chưa nói với ông là tôi là kẻ thất học Phật Pháp. Vì chưa đọc được nhiều kinh sách như chư Phật tử tại gia huống chi là so với chư Tăng Ni. Càng không hiểu cái gì là chữ Hán, chữ Nôm. Những gì tôi thuyết ở đây là tự tôi thuyết ra chứ chẳng phải nhờ học mà có. Nên tôi nói tôi là kẻ thất học Phật Pháp.

Nghe ông hỏi vậy thì tôi cho rằng ông có liên quan đến Thiền Tông. Nhân đây tôi nói cho ông biết điều này. Phật thuyết Kinh Lăng Già không phải để ngồi thiền đi tìm chân tâm kiến tánh thành Phật. Mà Phật thuyết Kinh Lăng Già là để cho hành giả biết vượt khỏi chấp trước, nhiễm trước thì mới có thể phá được màn vô minh. Ngay cả lấy Kinh Lăng Già để làm cơ sở cũng là nhiễm trước. Nghĩa này muốn nói rằng khi một hành giả hành thiền thâm sâu để thể nhập thật tướng Vũ Trụ Nhân Sinh thì không được dùng cái gì đã biết để làm cơ sở ban đầu cho cái mới tiếp theo được.

Ví như nhà khoa học lừng danh Einstein vậy. Ông ta là người đã hành thiền thâm sâu mặc dù ông ta không tu thiền. Nhờ hành thiền thâm sâu nên ông ta biết cái gì đó đặc biệt là có tính tụ hội (điều này do tôi chiêm nghiệm từ kết quả công bố của ông) nhưng vì dính mắc nhiễm trước rằng vật chất và không gian là hai (cái phân biệt này nó tồn tại trong tâm của ông) nên sanh ra kết luận là không thời gian xung quanh vật thể khối lượng lớn thì bị cong. Đáng tiếc cho ông chỉ vì nhiễm trước. Đây là một ví dụ tôi dẫn ra để ông thấy cái nhiễm trước nó làm cho người ta không thể phá được màn vô minh mà cứ đi lẩn quẩn bên cạnh mà thôi.

Nhat Phu Ho! Ông lo âu rằng "... ta phải điều phục từ đâu để dứt sạch vọng tâm, thấy được tánh của mình. Xin Thầy hoan hỷ cho con một vài ví dụ để nhân biết các thứ đó rõ ràng ạ, nhằm giúp cho những kẻ ti tập sơ cơ không lạc vào ma đạo, xa rời chánh kiến, uổng mất tâm huyết một lòng cầu đạo giải thoát ạ". Sự lo âu này của ông thì tôi giúp được nhưng bằng phương tiện của tôi và từ tôi mà có. Nếu ông hoan hỷ lắng nghe thì tôi sẵn lòng vì ông mà diễn bày.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Xin mời Thầy tiếp tục ạ.

Pháp Không Chân Như:
Bây giờ tôi sẽ chỉ bày cho ông thấy thế nào là nhiễm trước, nhiễm trước sanh ra chấp trước, chấp trước sanh ra thật có, thật có sanh ra sự thật. Sự thật này là giả.

Nhat Phu Ho:
Nếu sự thật này là giả tại sao nó hiện ra trước mắt chúng ta ạ?

Pháp Không Chân Như: 
Ông hỏi nhanh quá Nhat Phu Ho. Tôi chưa biết nên bắt đầu từ câu hỏi này hay phải trước đó nữa. Để biết được tôi nên nói bắt đầu từ mức nào thì tôi phải hỏi ông vài câu. Ông nghĩ thế nào?

Nhat Phu Ho:
Dạ được ạ.

Pháp Không Chân Như: 
Nhat Phu Ho! Tôi hỏi ông, hãy thật tâm nói thẳng, không quanh co, ông thấy ngọn đèn trong phòng ông hiện giờ cỡ bao lớn?

Nhat Phu Ho:
Dạ, khoảng một nắm tay ạ.

Pháp Không Chân Như:
Mọi người cũng nói như vậy đúng không?

Nhat Phu Ho:
Đúng ạ.

Pháp Không Chân Như:
Như vậy là một sự thật của Nhân gian, chẳng phải vậy sao?

Nhat Phu Ho:
Đúng thế ạ.

Pháp Không Chân Như:
Nó vẫn hiện trước mắt ông, chẳng phải vậy sao?

Nhat Phu Ho:
Đúng ạ.

Pháp Không Chân Như:
Nhưng sự thật đó là giả. Thế nào là giả? Tại sao giả vẫn hiện? Ông muốn biết chỗ này đúng vậy không?

Nhat Phu Ho:
Chính vậy ạ.

Pháp Không Chân Như:
Thế nào là giả, Nhat Phu Ho! Ngọn đèn kia, như ông thấy sự thật là to bằng nắm tay. Nếu nó to bằng nắm tay thì ông chẳng thể thấy. Vì sao? Vì ông chẳng ở trong nắm tay đó nên chẳng tiếp xúc được để thấy. Cái ngọn đèn mà ông thấy to bằng nắm tay kia chỉ là một phần của ngọn đèn chứ chẳng phải ngọn đèn. Tức là ông thấy vùng gần tim đèn, không thấy vùng xa tim đèn nên ông kết luận nó to bằng nắm tay.
Vì ông nói ngọn đèn to bằng nắm tay mà thật ngọn đèn to hơn nắm tay. Nên cái ngọn đèn to bằng nắm tay chẳng có. Vì chẳng phải cái to bằng nắm tay là ngọn đèn. Nên nói cái ngọn đèn nắm tay là giả, chẳng phải thật.
Ông thấy nó to bằng nắm tay hiện ra trước mắt ông, dù là cái ngọn đèn cho là to bằng nắm tay là giả, nhưng nó chẳng phải không có. Nó là một phần của ngọn đèn nên nó hiện ra trước mắt ông, nên ông thấy. Nghĩa là nó chẳng phải không có. Nhưng cái ông thấy không thật sự là tròn đủ ngọn đèn. Ông nghĩ thế nào?

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Những gì thầy nói chỉ có thể kết luận là con nhìn không chính xác thôi chứ không thể kết luận là giả được. Vì theo lẽ thường nếu giả thì nó phải không tồn tại nhưng trong khi đó không phải vậy.

Pháp Không Chân Như:
Giả không có nghĩa là không có, Nhat Phu Ho! Ông đừng vì chấp trước những gì ông đã nghe trước đây mà kết luận giả là chẳng có.

Nhat Phu Ho:
Vậy theo thầy phải hiểu thế nào là giả, thế nào là thật.

Pháp Không Chân Như:
Không phải nó thì gọi là giả. Chính nó gọi là thật.

Nhat Phu Ho:
Tức là không đúng sự thật thì là giả. Chứ không phải là không hề có là giả.

Pháp Không Chân Như: 
Chưa phải vậy. Không hề có cũng có trường hợp gọi là giả. Không hề có cũng có trường hợp chẳng được gọi là giả hay thật.
Không hề có cũng có trường hợp gọi là giả chính là ngọn đèn bằng nắm tay. Ngọn đèn bằng nắm tay mà ông nói chẳng hề có.
Không hề có cũng có trường hợp chẳng được gọi là giả hay thật chính là trường hợp chẳng từng có, chẳng từng tồn tại. Nhưng cái phần to bằng nắm tay mà ông thấy thì có.

Nhat Phu Ho:
Nếu vậy những cái thấy nghe hay biết của ta là thật hay giả vậy thầy.

Pháp Không Chân Như:
Là thật mà cũng là giả. Chẳng thật cũng chẳng giả. Chỗ này tôi sẽ quay lại nói rõ sau. Bây giờ tôi hỏi ông tiếp được chứ?

Nhat Phu Ho:
Dạ được ạ.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Có một viên bi sắt đang bên trong bề mặt của một quả cầu thủy tinh. Tôi hỏi ông, viên bi sắt đó đang nằm ở trong hay ở ngoài quả cầu thủy tinh?

Nhat Phu Ho:
Thầy đã nói nó bên trong bề mặt thì sao lại hỏi nó nằm trong hay ngoài?

Pháp Không Chân Như:
Câu hỏi của tôi không bị mâu thuẫn. Ông cứ trả lời theo sự biết của ông. Câu trước và câu sau tôi dùng cụm từ khác nhau nên không có mâu thuẫn.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Dạ, chẳng ở trong cũng chẳng ở ngoài ạ.

Pháp Không Chân Như:
Vì sao ông nghĩ vậy?

Nhat Phu Ho:
Nói nó ở trong thì không đúng, bởi nó ở trong bề mặt chứ chẳng phải ở trong lòng quả cầu. Nói nó ở ngoài thì càng sai vì ở ngoài quả cầu thì sao gọi là ở trong bề mặt.

Pháp Không Chân Như:
Không phải vậy, Nhat Phu Ho! Viên bi đó không nằm bên trong quả cầu thủy tinh. Nó đang nằm bên ngoài quả cầu thủy tinh. Vì giới hạn quả cầu thủy tinh đó là bề mặt bên ngoài của quả cầu thủy tinh và bề mặt bên trong (là bề mặt tiếp xúc với viên bi). Quả cầu này có hai bề mặt giới hạn như vậy. Viên bi kia đang nằm bên ngoài cái giới hạn đó nên nó nằm bên ngoài quả cầu thủy tinh. Ông thấy thế nào?

Nhat Phu Ho:
Ha ha ha... Đúng vậy.

Pháp Không Chân Như:
Tuyệt lắm. Nhat Phu Ho! Câu hỏi cuối cùng cho phần mở đầu bài này. Ba câu hỏi này liên quan chặt chẽ đến điều mà ông muốn hiểu và nó phản ảnh thật tướng của Vũ trụ.
Nhat Phu Ho! Quả cầu thủy tinh và viên bi sắt đang nằm bên trong bề mặt của quả cầu thủy tinh, chúng (VIÊN BI cùng QUẢ CẦU THỦY TINH) có được gọi là viên bi hay không, chúng có được gọi là quả cầu thủy tinh hay không?
Nếu tôi giả định viên bi là một tự thể tròn đầy, tồn tại vĩnh hằng, gọi là tự tánh viên bi. Giả định cho quả cầu thủy tinh cũng vậy. Khi đó, chúng (tức là viên bi đang nằm bên trong bề mặt của quả cầu thủy tinh và quả cầu thủy tinh) được gọi là một pháp. Tôi hỏi ông, pháp này có tự tánh hay không có tự tánh?

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Theo cách Thầy diễn bày thì nó có tự tánh.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Ở đây, thứ gì được gọi là có tự tánh khi CHÍNH NÓ là một tồn tại vĩnh hằng, không bị mất đi cũng không chuyển biến thành một thứ không còn chính nó. Một thứ bị mất đi hoặc chuyển biến không còn chính nó thì không có tự tánh. Thứ gì vô thường thì thứ đó không có tự tánh.
Như pháp quả cầu thủy tình cộng với viên bi kia không có tự tánh. Vì nếu lấy viên bi ra thì pháp đó chẳng còn, cái gọi là quả cầu thủy tinh cộng với viên bi. Pháp này chẳng còn nhưng viên bi và quả cầu thủy tinh vẫn còn. Pháp này chẳng có tự tánh như viên bi có tự tánh, quả cầu thủy tinh có tự tánh.
Nhat Phu Ho! Như vậy, ông nghĩ thế nào, những thứ vô thường, giả tạo đều trống rỗng chăng?

Nhat Phu Ho:
Cái đó là do tâm của ta tạm gọi chứ thật nó không phải như vậy ạ, thưa Thầy.

Pháp Không Chân Như: 
Vậy thì tại sao Đức Thế Tôn nói "vạn pháp do tâm tạo"? Ông hiểu thế nào về câu nói này của Ngài?

Nhat Phu Ho: 
Dạ. Sở dĩ gọi là vậy vì pháp là phương tiện để diễn bày tâm nên tâm ta gượng đặt thể tánh cho vạn vật để dễ bề phân biệt.
Dạ thưa Thầy. Con thường nghe nói về Kiến Tánh thành Phật. Vậy xin Thầy cho con hỏi thế nào là Kiến Tánh. A Di Đà Phật. Con xin cám ơn.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Xin hỏi ông, kiến tánh thành Phật là do ai nói, Phật có nói đúng bốn từ như vậy không hay là ai khác nói. Tôi đã nói là tôi là kẻ thất học Phật Pháp nên muốn hỏi ông cho rõ. Ông hoan hỷ trả lời chính xác.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Trong kinh Lăng Nghiêm Đại Định cũng nói về kiến tánh vậy thưa thầy, chẳng qua cách nói có khác thôi ạ.
Bạch Thầy. Xin Thầy kiến giải cho con con đường tu tập chân chánh, cái pháp môn mà thầy đang thực hành ạ.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Lời Phật dạy từng từ, từng câu rất chặt chẽ. Nếu bỏ một từ hay thêm một từ thì nghĩa có thể khác xa như đúng và sai.
Ví như khi Phật nói ngũ uẩn thì vô ngã mà hành giả lại nói con người thì vô ngã là sai vậy. Nghĩa rằng, từ được diễn bày thì nó đang chỉ đích thị danh đó, chẳng nên nghĩ khác. Ví như con người thì có ngũ uẩn nhưng ngũ uẩn chưa phải là con người. Nếu cho rằng ngũ uẩn chỉ cho danh con người là sai. Con người chỉ cho danh con người. Ngũ uẩn chỉ cho danh ngũ uẩn. Chớ cho rằng ngũ uẩn là con người hay con người là ngũ uẩn được.
Cũng như đoạn thoại nói về pháp quả cầu thủy tinh và viên bi đang nằm bên trong bề mặt quả cầu thủy tinh. Tôi lo rằng ông hiểu sai nên tôi phải nhấn mạnh từ "CHÍNH NÓ". Chính nó ở đây là toàn thể cái pháp đó. Điều này rất quan trọng.
Sự hỏi của ông vừa rồi mới thật đem lại lợi ích cho ông. Bây giờ tôi sẽ nói cho ông biết, thế nào thì mới gọi là Phật, chứ tôi không giải thích kiến tánh thành Phật là như thế nào. Nhat Phu Ho! Ông có hoan hỷ nghe không?

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Xin mời thầy.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Thế nào thì mới gọi là Phật. Một kẻ đạt được mười món sau thì mới gọi là Phật:
Một là, tồn tại không cấu uế.
Hai là, tiếp xúc mọi vị trí trong Vũ Trụ.
Ba là, biết rõ bản thể vật chất thì như thế nào.
Bốn là, biết rõ bản thể hữu tình thì như thế nào.
Năm là, biết rõ bản tánh của bản thể vật chất.
Sáu là, biết rõ bản tâm của bản thể hữu tình.
Bảy là, biết rõ nguyên lý hình thành mọi pháp trong Vũ Trụ.
Tám là, biết rõ tác dụng của mọi pháp trong Vũ Trụ.
Chín là, biết rõ tương quan của các pháp.
Mười là, biết dụng pháp.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Xin nhờ Thầy hoan hỷ giảng rộng từng điều ấy ra dùm ạ.

Pháp Không Chân Như:
Như vậy, Nhat Phu Ho! Ông muốn thành Phật thì phải tu cho đạt được mười món đó. Bất cứ kẻ nào chưa đạt đủ mười món này thì chưa thành Phật.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Con muốn hiểu rõ thế nào là đạt được 10 điều đó.

PHẨM THỨ NHẤT: PHẬT TỒN TẠI KHÔNG CẤU UẾ.

Pháp Không Chân Như: 
Nhat Phu Ho! Thế nào là tồn tại không cấu uế? Một kẻ tồn tại nhưng không bị dính mắc bất cứ thứ gì, kẻ này không còn bám chấp vào bất cứ thứ gì. Tồn tại như vậy gọi là tồn tại không cấu uế. Một kẻ tồn tại không cấu uế, sau khi xả thân sẽ không còn trong lục đạo luân hồi, và được gọi là A La Hán.

Nhat Phu Ho:
Vậy Thầy cho con hỏi làm sao đạt được như vậy?

Pháp Không Chân Như:
Phải thực hành Bát chánh đạo.

Chân Như Vô Ngại:
Nam mô Phật. Con xin phép Thầy. Xin phép bạn Nhat Phu Ho chút nhé. Con muốn hỏi: không dính mắc bất cứ thứ gì, không bám chấp bất cứ thứ gì hiểu như thế nào cho đúng ạ. Chữ "thứ gì" ở đây có phải là vật chất không?

Pháp Không Chân Như: 
Chân Như Vô Ngại! Bất cứ thứ gì là tất cả.

Chân Như Vô Ngại:
Nam mô Phật. Con thưa Thầy, con xin phép hỏi thêm ạ.
1. Khi một kẻ hiểu và làm theo điều người đó cho là đúng. Hành động đó có gọi là bám chấp không?
Ví dụ: Kẻ này biết sát sanh là ác pháp. Khi bị người khác ép sát sanh con vật, kẻ đó nhất định không làm. Hành động không làm đó có phải là bám chấp không?
2. Một kẻ không cần đạt được món thứ 3, món thứ 4 trong 10 món để thành Phật mà Thầy nói cũng có thể đạt được tâm không dính mắc, không bám chấp bất cứ thứ gì ạ?

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Vô Ngại! Trạng thái tâm của ông, trước khi làm, đang làm, sau khi làm không khác thì là tâm không dính mắc, không bám chấp vào cái đó.
Câu hỏi thứ hai cũng là câu trả lời đúng.

Chân Như Vô Ngại:
Dạ vâng ạ. Con xin cám ơn Thầy. Nam mô Phật.
Con thưa Thầy, con nghĩ thấy trạng thái tâm trước làm, đang làm, sau khi làm không thay đổi chỉ có thể là trạng thái định thôi ạ. Có đúng không Thầy?

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Vô Ngại! Đó là đang nói không bám chấp một thứ chứ không phải bất cứ thứ gì. Không bám chấp, dính mắc bất cứ thứ gì thì trạng thái này phải vĩnh hằng chứ chẳng phải khi định thì được tịnh mà khi không định thì chẳng tịnh. Lúc uế lúc tịnh thì chẳng phải là tâm của bậc A La Hán.

Chân Như Vô Ngại:
Dạ. Con cám ơn Thầy ạ. Nam mô Phật. Nam mô Thầy.

Vô Thường:
Bạch thầy, con đã theo dõi bài giảng của thầy từ đầu đến giờ nhưng có chỗ này con không hiểu mong Thầy hoan hỷ giảng giải cho con ạ.
Thứ nhất, thế nào là trạng thái tâm?
Thứ hai, Thầy có thể cho con một ví dụ về việc làm mà trạng thái tâm trước và sau khi làm khác nhau và một ví dụ về trạng thái tâm trước và sau khi làm giống nhau?
Thứ ba, hiện tại ta đang tu tập theo pháp môn mà ta cho là đúng thì có phải ta đang bám chấp vào pháp không? Nam Mô Phật.

Pháp Không Chân Như: 
Vô Thường! Trạng Thái là một từ đã có nghĩa chính nó, không có định nghĩa trạng thái là gì.
Một kẻ lúc trước khi làm có trạng thái tâm không vui không buồn. Khi được nhiều người khác khen ngợi cũng không vui không buồn. Sau khi hết khen ngợi, cũng không vui không buồn. Trạng thái tâm của quá khứ, hiện tại, vị lai như vậy là không khác.
Vô Thường! Phàm là chúng sinh thì nghiệp chướng sâu dày, không thể không dùng pháp mà buông được pháp, mà phải dùng pháp để buông pháp. Vì lý ấy cho nên chư Phật xuất thế để dạy cho chúng sinh các pháp để tu hành.

Vô Thường:
Dạ con cám ơn thầy ạ. Nam mô Phật.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Vậy còn món thứ 2, thưa Thầy?

PHẨM THỨ HAI: PHẬT TIẾP XÚC MỌI VỊ TRÍ TRONG VŨ TRỤ.

Pháp Không Chân Như:
Thế nào là tiếp xúc mọi vị trí trong Vũ Trụ? Nhat Phu Ho! Mỗi chúng sinh đều có Phật tánh. Mỗi Phật tánh trùm khắp Vũ Trụ. Phật tánh là một thể tánh đầy đặn, nội tại liên tục, chẳng có chỗ trống không. Thể tánh này đồng nhất với Vũ Trụ.
Ví như một quả cầu thủy tinh trong suốt, được đặt trong ánh sáng màu xanh. Giả định rằng toàn thể ánh sáng hiện hữu trong quả cầu thủy tinh là một thể ánh sáng thì thể ánh sáng này trùm khắp quả cầu thủy tinh. Còn ánh sáng của cái thể ánh sáng này thì xuyên thấu, tiếp xúc mọi vị trí trong quả cầu thủy tinh đó. Quả cầu thủy tinh dụ cho Vũ Trụ, cái thể ánh sáng dụ cho Phật tánh, ánh sáng dụ cho trường nội tại của Phật tánh.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Chỗ này hơi khó liễu nghĩa. Thầy thông cảm nói sâu một chút dùm con ạ. Và Thầy có thể giảng thêm ra Phật Tánh là gì không ạ. Tại sao gọi nó là bao trùm Vũ Trụ.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Ví như đem một viên bi sắt nung trong lửa cho đến khi viên bi nóng toàn bộ. Khi đó, viên bi này có nhiệt độ cao. Cái thể nhiệt đang trùm khắp viên bi. Bất cứ vị trí nào trong viên bi cũng có nhiệt. Nghĩa là nhiệt tiếp xúc, xuyên thấu mọi vị trí trong viên bi, còn cái thể nhiệt thì trùm khắp viên bi. Viên bi dụ cho Vũ Trụ, cái thể nhiệt dụ cho Phật tánh, nhiệt dụ cho trường nội tại của Phật tánh.
Tôi không nói Phật tánh bao trùm Vũ Trụ. Tôi nói Phật tánh trùm khắp Vũ Trụ. Bao trùm là một thể trống rỗng. Trùm khắp chỉ cho một thể đầy đặn, không có chỗ trống không. Thể tánh này đồng nhất với (to bằng) Vũ Trụ nên gọi là trùm khắp Vũ Trụ.

Nhat Phu Ho:
Vậy thì thế nào là Phật Tánh. Làm sao biết Phật Tánh trùm hết Vũ Trụ ạ, thưa Thầy?

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Phật tánh là bản thể rốt ráo của mỗi chúng sinh, là cái thường hằng, bất biến của mỗi chúng sinh. Gọi là bản thể hữu tình, cũng là bản thể Phật. Còn làm sao biết thì phải tu.
Nhat Phu Ho! Tôi sẽ dùng ví dụ này để ông hiểu thế nào là cái thể, thế nào là trường nội tại của cái thể đó.
Ông đem một ly nước bỏ vào trong ngăn đá của tủ lạnh. Chờ đến khi nước trong ly đã đông thành đá. Thì cái cục nước đá đó gọi là một cái thể, còn nước của cục đá thì gọi là trường nội tại của cục đá đó. Ông có hiểu được không? Nếu không thì tôi ví dụ tiếp.
Nhat Phu Ho! Tôi cần ông hiểu rõ những gì tôi đã giàng bày để có thể lãnh hội được những gì tôi sẽ nói về sau. Vậy nên, không cần phải vội. Ông cứ hỏi để hiểu đúng và hiểu rõ. Và ông cần phải quán chiếu để thấu triệt được nó. Như vậy mới có lợi ích cho ông.

Nhat Phu Ho: A Di Đà Phật. Con người là một thể. Trường nội tại là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý,… Như vậy có đúng không Thầy.

Pháp Không Chân Như: 
Nếu không kể Phật tánh thì hiểu như Nhat Phu Ho là đúng. Tuy nhiên đối tượng này dùng để hiểu trường nội tại thì khó hình dung được cái vi diệu của thật tướng.
Hãy nhìn vào quả cầu thủy tinh màu tím (Xem hình được đăng kèm trong hộp bình luận đầu tiên của bài đăng này). Cái quả cầu được gọi là một thể, một vật, thì chất liệu thủy tinh tạo nên quả cầu được gọi là trường nội tại của quả cầu.
Ví như cái cục màu tím mà Nhat Phu Ho nhìn thấy gọi là thể thì màu tím là trường nội tại tạo nên cục màu tím.

Nhat Phu Ho:
À, vâng. Một chai đựng nước là một thể. Trường nội tại là nước đựng trong chai.

Pháp Không Chân Như:
Đúng vậy nhưng không bao gồm cái chai, Nhat Phu Ho.

Nhat Phu Ho:
 À, tức là nói là một thể thì không thể tách rời.

Pháp Không Chân Như:
Như thế này Nhat Phu Ho! Nếu nói chai nước là một thể thì nước chưa phải là trường nội tại của chai nước đó, mà trường nội tại của chai nước đó phải bao gồm cả nước lẫn thủy tinh của cái chai. Khi ông nói toàn bộ nước với hình dạng trong chai là một thể thì khi đó nước là trường nội tại của cái thể nước giống cái chai.

Nhat Phu Ho:
À, con hiểu rồi. Xin mời Thầy nói tiếp ạ.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Bây giờ ông hãy nhìn kỹ quả cầu thủy tinh màu tím. Ông nhìn thấy cục màu tím hình quả cầu, cũng thấy quả cầu thủy tinh. Màu tím có mặt ở mọi vị trí trong quả cầu thủy tinh. Màu tím là thứ tạo nên cục màu tím. Nghĩa là trường nội tại của cục màu tím là màu tím. Màu tím tiếp xúc, có mặt, xuyên thấu mọi vị trí trong quả cầu thủy tinh.
Ví quả cầu thủy tinh là Vũ Trụ, chất thủy tinh là vật chất, không gian trong Vũ Trụ, thì cục màu tím được ví như Phật tánh, màu tím ví như trường nội tại của Phật tánh. Cục màu tím thì trùm khắp quả cầu thủy tinh. Cũng như vậy, Phật tánh thì trùm khắp Vụ Trụ. Cục màu tím thì đồng nhất (nói thô lỗ là to bằng nhau) với quả cầu thủy tinh. Cũng như vậy, Phật tánh thì đồng nhất với Vũ Trụ. Màu tím thì có mặt, tiếp xúc, xuyên thấu mọi vị trí trong quả cầu thủy tinh. Cũng như vậy, trường nội tại của Phật tánh thì có mặt, tiếp xúc, xuyên thấu mọi vị trí trong Vũ Trụ kể cả trong vật chất và không gian,...

Chân Như Bồ Đề:
Nam Mô Phật! Cho con được hỏi quả cầu màu tím là đặc ruột ạ?

Pháp Không Chân Như:
Đúng vậy, Bồ Đề.

Chân Như Bồ Đề:
Nam Mô Sư Phụ!

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Dạ mời Thầy nói tiếp ạ.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho đã hiểu rõ chưa.

Nhat Phu Ho:
Dạ, tàm tạm Thầy ơi.

Pháp Không Chân Như:
Món thứ hai vừa rồi là tôi đã giảng về bản thể Phật, Phật tánh của chúng sinh, của ông. Ông phải quán chiếu cho kỹ để hiểu. Nhat Phu Ho.

Nhat Phu Ho:
Dạ, con đang làm.
Phần này mà không hiểu kỹ thì phần sau chắc không hiểu nổi quá.

Pháp Không Chân Như:
Đúng vậy, Nhat Phu Ho. Vì Phật tánh thì giản đơn hơn nhiều so với bản thể vật chất và các tánh của bản thể vật chất. Chính nó đã gây ra sự sai biệt làm cho chúng sanh mê lầm. Khi nào cần thì ông cứ nói, tôi sẽ dùng nhiều phương tiện để cho ông hiểu.

Nhat Phu Ho:
Dạ, vậy Thầy cho con một đêm để nghiệm lại hai món trên nha.

Chân Như Bồ Đề:
Nam Mô Sư Phụ! Con ngu ra ở chổ này: "Chính nó đã gây ra sự sai biệt làm cho chúng sanh mê lầm". "Chính nó" là chỉ cái gì ạ?

Pháp Không Chân Như:
Là bản thể vật chất và bản tánh của nó.

Chân Như Bồ Đề: 
Vậy chính là "Bản thể vật chất và bản tánh của nó đã gây ra sự sai biệt làm cho chúng sanh mê lầm". Nam Mô Phật!

Chân Như Tuệ Không:
Nam mô Phật. Con xin phép Thầy, cho con hỏi.
Màu tím là trường nội tại của cục màu tím. Vậy trường nội tại của quả cầu thủy tinh là chất thủy tinh đúng không ạ?

Pháp Không Chân Như:
Đúng vậy, Chân Như Tuệ Không.

Chân Như Tuệ Không:
Nam mô Phật. Thưa Thầy, con xin hỏi thêm ạ!
Vậy quả cầu thủy tinh là quả cầu thủy tinh, cục màu tím là cục màu tím. Là hai thứ chứ chẳng phải là một thứ. Nhưng cục màu tím và quả cầu thủy tinh là đồng nhất thể. Vậy trường nội tại của quả cầu thủy tinh có bao gồm màu tím luôn không ạ?

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Tuệ Không! Đồng nhất với nhau chứ không phải đồng nhất thể. Đừng có nghĩ chúng nhập thành một. Nếu đem quả cầu thủy tinh đặt trong bóng tối thì quả cầu thủy tinh không có màu tím. Vậy chẳng thể nói trường nội tại của quả cầu thủy tinh bao gồm màu tím. Ở đây ta đang hướng sự hiểu cho hai thực thể khác nhau.

Chân Như Tuệ Không:
Nam mô Phật. Dạ, con hiểu rồi ạ! Con xin cảm ơn Thầy!

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Khi nào đã hiểu rõ các món đã giảng thì hãy cho tôi biết để giảng tiếp các món còn lại. Trong quá trình liễu nghĩa các đoạn pháp của tôi, chỗ nào cần dùng thêm phương tiện để định hướng liễu nghĩa thì cứ hỏi. Nam mô Phật.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật.

Quy Nguyen:
Nam mô Phật. Nam mô Pháp Không Chân Như vĩnh Hằng. Sư phụ cho con được 'Hỉ Pháp'. Nam mô Sư phụ.

Như Ý Nguyện: 
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Sư Phụ.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Dạ con xin mời Thầy giảng tiếp ạ.

PHẨM THỨ BA: PHẬT BIẾT RÕ BẢN THỂ VẬT CHẤT THÌ NHƯ THẾ NÀO.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Hôm nay tôi giảng về món thứ ba: Bản thể vật chất thì như thế nào?
Có nhiều kẻ nghe Phật dạy "Vạn pháp do tâm tạo" rồi từ đó lại hiểu là không có vật chất tồn tại, chỉ do tâm sinh. Hiểu như vậy thì không đúng ý Phật.
Những thứ hiện hữu mà con người nhận biết đều thông qua năm uẩn. Năm uẩn gồm thân xác, các cảm thọ, các tưởng, các hành, các thức, gọi tắt là thân tâm. Thân tâm chẳng phải là Tự Ngã của ta, chẳng phải là Ta, chẳng phải là của Ta, mà là vật chất. Con người nhận biết vật chất thông qua thân tâm, mà thân tâm là vật chất nên gọi cái đối tượng được nhận biết đó là sự vật, hiện tượng, và đối tượng được biết đến đó được gọi là pháp. Vì sự nhận biết bằng phương tiện như thế (bằng thân tâm) nên cái đối tượng được nhận biết thì không chân thật. Ví như ta nhìn ngọn đèn và cho nó to bằng nắm tay, đó là nhận biết không chân thật. Vì nhận biết không chân thật nên cái đối tượng được nhận biết thì không có thật. Kết quả không chân thật này là do tâm đã được kết tập tích lũy từ vô thỉ theo sự vật hiện tượng, được định dạng, mặc định cho sự nhận thức, cái thường được gọi là tàng thức. Thông qua thân tâm, các đối tượng được kết luận theo mặc định là như thế này, như thế kia. Và cứ như thế, thông qua vật chất là thân tâm để nhận biết vật chất. Một sự nhận biết không chân thật, kết tập, tích lũy, mặc định, và cứ như thế. Như vậy, kết quả nhận thức không chân thật đều do tâm. Vậy nên mới nói vạn pháp do tâm tạo.
Nếu không có cái chân thật thì sẽ không có cái gọi là không chân thật. Cái không chân thật không tự nhiên mà có, rồi lại chẳng còn gì. Không có sự vật hiện tượng nào mà lại không có cái gốc đang tồn tại. Khi ta nói ngọn đèn to bằng nắm tay là không chân thật thì không có nghĩa rằng cái ngọn đèn to bằng nắm tay đó không có cái gốc đang tồn tại. Ví như ta nói viên bi là không chân thật thì không có nghĩa là viên bi đó không có cái gốc đang tồn tại. Cái gốc đang tồn tại để từ đó ta nhận biết viên bi kia chính là bản thể vật chất. Bản thể vật chất là cái gốc của mọi sự vật hiện tượng.
Bản thể vật chất là gì? Là một thực thể tồn tại vĩnh hằng, và:
Không bao giờ bị phân chia và cũng không bao giờ tự phân chia được;
Không bao giờ sáp nhập với bản thể vật chất khác để trở thành một BẢN THỂ, cũng không bao giờ bị sáp nhập với bản thể khác để trở thành một BẢN THỂ;
Không bao giờ thay đổi tổng giá trị trường nội tại và cũng không bao giờ bị thay đổi tổng giá trị trường nội tại;
Không bao giờ thay đổi thành bản thể khác và cũng không bao giờ bị thay đổi thành bản thể khác;
Không bao giờ tự mất đi và không bao giờ bị mất đi, không còn tồn tại;
Không bao giờ được cái tồn tại khác sinh ra và cũng không bao giờ tự nó sinh ra nó.
Bản thể vật chất là thể dạng gốc rốt ráo của mọi sự vật và hiện tượng.
Vũ Trụ có vô số bản thể vật chất.
Vũ Trụ có vô số bản thể vật chất giống nhau.
Vũ Trụ có vô số bản thể vật chất khác nhau.
Nhờ có chúng, con người nhận biết có cái này, cái kia, hiện tượng này, hiện tượng kia.

Trường nội tại của bản thể vật chất là gì? Nhat Phu Ho! Đó chính là chân không.
Tất cả bản thể vật chất đều như vậy.
Và như thế, tất cả vật chất đều là chân không, không có chi khác.
Thân tâm là chân không. Vàng là chân không. Kim cương là chân không. Đất là chân không. Không khí là chân không... Vậy, xuyên suốt Vũ Trụ đều là chân không, không có chi khác ngoài Phật tánh.
Vũ Trụ này chỉ có hai thứ và duy chỉ có hai thứ: chân không và Phật tánh, hay còn nói là: bản thể vật chất (đều cấu tạo bằng chân không) và Phật tánh (Phật tánh chính là Ta, là Tự Ngã của ta).
Một kẻ đại giác ngộ sẽ thấy trong Vũ Trụ này toàn là chân không, chẳng đem tâm phân biệt có vàng, có kim cương, có nhà, có đất, có xe, có thân tâm,...
Một thể Vũ Trụ đều là chân không như vậy, không có thứ chi khác trong Vũ Trụ ngoài Phật tánh, nên khi thấy như vậy, đặt là Chân Như, đặt là hư không, đặt là Như Như, là chân không.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Bài pháp này quá ư là thâm sâu. Nếu hiểu rõ thì Mạc Na Thức được phá trừ tánh vô minh. Xin Sư phụ vui lòng cho con chiêm nghiệm thêm được chăng.

Pháp Không Chân Như:
Nam mô Phật. Phải như vậy.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Con cám ơn Sư phụ.

Thùy Dương Thái Thị:
Bạch Thầy, cho con xin hỏi: loại Nhất xiển đề, nếu biết nỗ lực tu tập thì có thể đạt được Quả vị Vô thượng không ạ?

Pháp Không Chân Như:
Thùy Dương Thái Thị! Bất cứ kẻ nào cũng sẽ thành Phật, không sớm thì muộn. Sớm thì cảm thọ khổ đau ngắn, muộn thì cảm thọ khổ đau dài.

Chân Như Tuệ Quang:
Thưa Sư phụ, ở món thứ ba có đoạn Sư phụ nói: "Ví như ta nói viên bi là không chân thật thì không có nghĩa là viên bi đó không có cái gốc đang tồn tại. Cái gốc đang tồn tại để từ đó ta nhận biết viên bi kia chính là bản thể vật chất. Bản thể vật chất là cái gốc của mọi sự vật hiện tượng."
"Cái gốc đang tồn tại để từ đó ta nhận biết viên bi kia chính là bản thể vật chất."
Vậy hiểu viên bi là bản thể vật chất? Nếu hiểu như thế thì mâu thuẫn.
Nếu con hiểu như vầy thì có đúng không Sư phụ :
Ví như ta nói viên bi là không chân thật thì không có nghĩa là viên bi đó không có cái gốc đang tồn tại. Cái gốc đang tồn tại để từ đó ta nhận biết viên bi kia, chính cái gốc đang tồn tại đó là bản thể vật chất. Bản thể vật chất là cái gốc của mọi sự vật hiện tượng.

Quảng Pháp:
Nam mô Phật. Theo tôi, câu trên Sư phụ nói với câu dưới huynh Chân Như Tuệ Quang hiểu, vẫn cùng một nghĩa. Và huynh Chân Như Tuệ Quang hiểu vậy là đúng.

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Tuệ Quang và Quảng Pháp nói đều đúng.

Chân Như Vô Ngại: 
Nam mô Phật. Con thưa Sư phụ, con xin hỏi: như vậy, hiểu nghĩa của từ Chân Như chính là bản thể chân thật, vĩnh hằng của Vũ Trụ, là bản thể vật chất và Phật tánh đúng không ạ?

Pháp Không Chân Như: 
Không đúng, Chân Như Vô Ngại! Trong Vũ Trụ, về vật chất thì ở đâu cũng là chân không, mọi sự vật và hiện tượng kể cả tất cả bản thể vật chất đều là chân không, toàn thể như vậy, chẳng có thứ chi khác. Một vùng trong sạch như vậy gọi là chân như. Chân như là chân thật mà ở đâu cũng như vậy. Ví như ông nhìn xuống biển, thấy có nước, có băng. Nhưng băng cũng là nước. Nếu không đem cái tâm phân biệt băng và nước, mà chỉ thấy nước, nhìn biển thấy nước, nhìn băng thấy nước, toàn là nước thì khi đó, nước xuyên suốt như vậy gọi là chân như.
Chân như thì bất nhị, chỉ có một, không có hai. Chỉ có một ở đây chính là chân không. Trong Vũ Trụ, về vật chất, mọi vật chất, mọi sự vật và hiện tượng, kể ra như đất, đá, nước, gió, lửa, vàng, bạc, kim cương, châu báu, âm thanh, ánh sáng, thân tâm,… đều chỉ có một nguồn gốc duy nhất là chân không.
Như vậy, về vật chất, tôi nói cho dễ hiểu rằng cái cục Vũ Trụ làm bằng một chất liệu duy nhất là chân không. Nên nói trường nội tại của cái cục Vũ Trụ là chân như, là như như, là chân không, là hư không.

Chân Như Vô Ngại:
Dạ vâng ạ. Con hiểu chỗ này rồi ạ. Con cám ơn Sư phụ. Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.

Chân Như Tuệ Quang: 
Thưa Sư phụ. Nếu nói theo cách dễ hiểu thì ta có thể nói chân như chính là sự thật không có cấu uế của sự vật hiện tượng về Vũ Trụ. Mô Phật.

Pháp Không Chân Như:
Nói như Chân Như Tuệ Quang rất khó hiểu. Mà nói theo kiểu đó thì ai cũng nói được, và tệ hơn là ai cũng mê lầm cho là mình hiểu. Đây là kiểu nói của nhiều Tổ trước đây. Phải hiểu thấu và thấy cái chân thật rằng ở đâu, vị trí nào trong Vũ Trụ cũng đều là chân không. Một chân không liên tục và trùm khắp Vũ Trụ, chẳng có thứ vật chất nào khác nằm trong đó thì gọi là chân như.

Quảng Pháp:
Nam mô Phật. Con bạch Sư phụ, Sư phụ giảng về Chân như thì con hiểu được. Còn câu này của Sư phụ: "Năm uẩn gồm thân xác, các cảm thọ, các tưởng, các hành, các thức, gọi tắt là thân tâm. Thân tâm chẳng phải là Tự Ngã của ta, chẳng phải là Ta, chẳng phải là của Ta, mà là vật chất." thì con chưa hiểu. Trong thân tâm, nói thân xác là vật chất thì con hiểu được, còn thọ, tưởng, hành, thức là vật chất, con chưa hiểu được. Xin Sư phụ hoan hỉ giảng giải chỗ này cho chúng con. Nam mô Phật. Nam mô Pháp. Nam mô Sư phụ.

Pháp Không Chân Như:
Cụ thể thì ý của Quảng Pháp muốn hỏi gì?

Quảng Pháp:
Nam mô Phật. Con bạch Sư phụ, Sư phụ giảng giải cho con: Thọ, tưởng, hành, thức tại sao lại là vật chất?

Pháp Không Chân Như:
Quảng Pháp! Theo ông nghĩ, nếu nó không phải là vật chất thì là gì?

Quảng Pháp:
Con bạch Sư phụ, ví dụ như thức uẩn của con, theo con hiểu thì là cái biết của con. Ví như con biết có Phật, con biết có Pháp Phật để tu, con biết có những vị Tăng đắc đạo như Sư phụ để học theo. Vậy sao nói cái biết này của con là Vật chất? Xin Sư phụ giảng giải. Nam mô Phật.

Pháp Không Chân Như: 
Quảng Pháp! Cái biết có hai loại. Cái biết mà ông nói thì rõ ràng trước đây ông không biết. Cái biết này thay đổi. Cái biết này thuộc thân tâm.
Cái biết biết cái biết. Cái biết đó ông không biết nó. Cái biết đó thường hằng. Cái biết mà ông không biết này không thuộc thân tâm.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Câu hỏi của Quảng Pháp được lý giải như thế này đúng không Sư phụ. Bởi do thân xác mà sinh ra Thọ, từ Thọ mà sinh ra Tưởng, từ Tưởng lại sinh ra Thức, do sự khởi đầu là vật chất mà sinh nên cái Thức nhận biết đó cuối cùng cũng thuộc vật chất.
Do ta nhận lầm vật chất là mình nên bị dính mắc ở trong đó.
Phải không Sư phụ.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Dùng từ "sinh" là không đúng. Suy luận cũng không đúng. Không nên nghĩ rằng cái này duyên ra cái kia mà cái này là như vậy thì cái kia cũng như vậy. Kết luận không sai nhưng lý luận sai. Tôi nói vậy để ông biết phương tiện nào khi dùng. Vì nếu ông giữ thói quen suy luận theo phương pháp như vậy rất bất lợi cho ông khai thông trí tuệ. Suy luận theo phương pháp đó không phải lúc nào cũng đúng.
Câu cuối của ông là đúng.
Câu trả lời câu hỏi của Quảng Pháp không phải luận cho nhiều. Chỉ cần thứ không phải của Phật tánh, không phải là Phật tánh thì thứ đó là vật chất, của vật chất.

Quảng Pháp:
Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.

Chân Như Bồ Đề:
Trong Vũ Trụ, cái gì không phải Ngã đều là vật chất, kể cả thân tâm của tất cả chúng sinh ạ!
Nam Mô Phật!

Pháp Không Chân Như:
Không phải vậy Chân Như Bồ Đề, mà là, trong Vũ Trụ, thứ gì không phải Ngã, không phải của Ngã thì là vật chất, của vật chất. Ví như ta có một tấm ảnh của ta. Ta nói tấm ảnh đó là của ta. Rồi ta xé nó ra. Ta sẽ nói, các mảnh giấy đó là của tấm ảnh của ta. Như vậy, nếu những mảnh giấy ảnh không phải là tấm ảnh của ta, không phải là của tấm ảnh của ta thì là tấm ảnh của người khác, của tấm ảnh của người khác,... Nói như vậy mới đầy đủ giống như thật tướng của Vũ Trụ.
Tôi đã nhắc nhiều lần rồi, chư vị phải nhớ, chớ để thiếu mất từ nào hay tự ý thay thế từ khác trong câu nói của người khác. Làm như vậy thì có thể dẫn đến hiểu sai ý của họ, đặc biệt nói về thật tướng của Vũ Trụ Nhân Sinh.
Nhưng nhờ Chân Như Bồ Đề nên chư vị lại được nhắc nhở, được nghe thêm những lời ích lợi.
Một sự trớ trêu trong Phật giáo xưa nay nhưng chẳng có ai hay biết. Xưa nay chưa thấy tu sĩ nào nói là không hiểu kinh Vô Ngã Tướng. Có phải vậy không. Nhưng, giờ tôi chỉ ra chỗ mà chư vị tu sĩ không hiểu. Đây, Phật nói ngũ uẩn chẳng phải ta, chẳng phải của ta, chẳng phải tự ngã của ta. Chẳng ai hiểu được vì sao Phật dùng từ CỦA. Nhưng lại tự cho mình hiểu ý Phật, chẳng hạ tâm mình mà cầu Sư phụ học đạo. Rất tội nghiệp.
Như chư vị đây, khi đã có nhân duyên nghe tôi giảng tường tận về Phật tánh, Thể tánh Như Lai, bản thể vật chất, chư vị mới có thể hiểu được tại sao Phật dùng từ của, tôi dùng từ của.
Chư vị! Phật Pháp thâm sâu nên chẳng bao giờ để cái tâm tăng thượng mạn. Nếu bị như vậy thì chắc chắn là kẻ ngu si, tâm trí mờ tối, học được vài chữ của Phật thì cho là hoàn toàn, tâm tánh cống cao ngã mạn, chẳng thèm hạ mình cầu Sư phụ học pháp chân chánh, chưa đắc nói đã đắc, nhận giả làm thiệt, trôi lăn trong lục đạo khổ đau. Rất tội nghiệp.

Chân Như Bồ Đề:
Dạ! Con xin đọc lại và quán xét kỹ ạ! Cảm ơn Sư Phụ! Nam Mô Phật!

Chân Như Tuệ Không:
Nam mô Phật. Con xin cảm ơn Sư phụ, đã luôn vì chúng con mà nhắc nhở, giảng dạy rõ tường Chánh Pháp của Như Lai. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chân Như Tuệ Quang:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Sư phụ Pháp Không Chân Như.
Những bài pháp mà Sư phụ giảng trước kia thì con đã đọc nhưng con không khắc sâu. Giờ đây con viết tay lại một cách tỉ mỉ và rõ ràng con mới nhận ra được rằng cách dùng từ để giảng giải Phật pháp của Sư phụ thật chuẩn mực và con được hiểu sâu và khắc sâu hơn nữa. Con nguyện đem những bài giảng của Sư phụ trợ duyên cho mọi người hữu duyên.
Nguyện cho Sư phụ ngày càng tăng trưởng tuệ giác sáng suốt để soi đường dẫn lối cho chúng con.

Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Thưa Sư phụ cho con xin ít thời gian để quán xét tất cả cái mà Sư phụ giảng để được tường tận thì con mới dám học tiếp ạ.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Tôi chưa giảng xong món thứ ba. Nếu vậy mà ông quán sát món thứ ba thì không thể nào quán sát được. Nên tôi phải giảng tiếp cho ông nghe về Bản thể vật chất thì như thế nào. Ông có sẵn sàng chưa?

Nhat Phu Ho:
 Dạ được ạ. A Di Đà Phật.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Trường nội tại của bản thể vật chất là một trường chân không liên tục. Mỗi bản thể vật chất sở hữu độc lập một lượng giá trị chân không riêng biệt (hiện nay khoa học thì gọi là khối lượng). Lượng giá trị chân không của mỗi bản thể không bao giờ giảm, không bao giờ tăng, không bao giờ mất đi. Lượng giá trị chân không tại một vị trí trong Vũ Trụ, hoặc là của bản thể này, hoặc là của bản thể kia, không có lượng giá trị chân không nào không thuộc một bản thể nào. Một lượng giá trị chân không thuộc bản thể này thì không thuộc bản thể kia, và ngược lại, một lượng giá trị chân không thuộc bản thể kia thì không thuộc bản thể này.
Lượng giá trị chân không trong một bản thể được phân bố không đồng đều. Lượng giá trị chân không tại một vị trí thuộc bản thể nào thì tôi gọi đó là cường độ chân không tại vị trí đó của bản thể đó.
Lượng giá trị chân không của một bản thể được phân bố theo dạng có khối tâm. Nghĩa là trong bản thể đó, tồn tại một vị trí mà tại đó có đường độ chân không lớn nhất trong bản thể đó. Từ vị trí đó, cường độ chân không trong bản thể sẽ giảm dần khi càng xa vị trí đó.
Ông hãy nhìn tấm ảnh 1 và quán nó. (Chư vị hoan hỷ xem hình 1 đính kèm).


Ảnh 1

Pháp Không Chân Như:
Quảng Pháp lưu ý đoạn trên vì nó liên quan đến câu hỏi mà ông đã hỏi trong đạo tràng. Ông hãy theo dõi bài giảng này về vật chất thì ông sẽ dễ dàng hiểu được câu hỏi mà ông đã hỏi tôi.

Quảng Pháp:
Nam mô Phật.

Pháp Không Chân Như:
Nhat Phu Ho! Ảnh 2 này (Chư vị hoan hỷ xem hình 2 đính kèm) thể hiện một bản thể vật chất, tại khối tâm có cường độ chân không lớn nhất nên nhìn thấy có màu xám đậm đen. Càng ra xa khối tâm thì cường độ càng giảm dần, tức là mật độ chân không giảm dần đến mờ nhạt và không thể nhìn thấy biên của nó vì cường độ chân không rất nhỏ, giống như ta nhìn bằng mắt thường vào không trung thì ta không thấy cái gì ở gần trước mắt ta.


Ảnh 2

Tại vùng tâm của bản thể này có những bản thể vật chất khác bồi tụ như ví dụ về viên bi sắt nằm bên trong bề mặt của quả cầu thủy tinh vậy.
Ảnh này chính là ảnh chụp được hạt nhân của nguyên tử Hê-li. Khoa học nói rằng vùng màu xám là những đám mây electron bao quanh hạt nhân. Hạt nhân thì gồm proton và neutron. Nhưng sự thật không phải vậy. Vùng màu xám chính là trường nội tại của bản thể proton. Trong vùng màu xám này còn có sự có mặt của các electron nhưng ảnh chụp này không thể phân biệt được. Không phân biệt được vì mật độ chân không của eclectron gần như bằng với mật độ chân không của bản thể proton tại vùng mà electron đang trụ xứ. Bản thể proton chính là bản thể chủ của nguyên tử Hê-li. Tức là kích thước của nguyên tử Hê-li chính là kích thước của bản thể proton. Sự thật này, đến nay, khoa học không biết. Vì họ đã kết tập sự nhận biết sai lầm rằng chân không và vật chất là hai thứ khác nhau.
Nhat Phu Ho! Ảnh 3 này (Chư vị hoan hỷ xem hình đính kèm), cái vùng màu xanh thể hiện một bản thể vật chất. Cái cục nhỏ lam lỗ màu xanh bên trong là vùng gần khối tâm của nó. Thực tế vì cái bản thể này lớn nên khi nhìn thấy trên ảnh, từ vùng khối tâm ra hết vùng màu xanh, ta thấy trong suốt màu xanh nhạt. Đây là vùng có khoảng cách khá xa tâm, mật độ chân không nhỏ nên ta thấy nó trong suốt như vậy.


Ảnh 3

Nhat Phu Ho! Ảnh 3 này chính là ảnh nhìn từ xa về Trái Đất. Cái cục nhỏ lam lỗ màu xanh chính là Trái Đất. Cái vùng bên ngoài màu xanh nhạt, khoa học nói là bầu khí quyển, là trường điện từ của Trái Đất. Sự thật không phải vậy. Vùng màu xanh nhạt cũng chính là trường nội tại của một bản thể vật chất. Bản thể vật chất này đang chứa bên trong bề mặt của nó cái cục Trái Đất, Mặt Trăng và không khí. Bản thể này là bản thể chủ của Trái Đất. Cái cục Trái Đất, Mặt Trăng và không khí là những vật chất (là những bản thể khác bản thể chủ Trái Đất) bồi tụ bên trong bề mặt của bản thể chủ Trái Đất và hình thành cái cục Trái Đất, Mặt Trăng, không khí.
Người ta đã chấp chặt từ vô thỉ, cho rằng chân không và vật chất thì khác nhau nên mới nói cái không trung xung quanh mặt đất chẳng có liên quan gì Trái Đất. Họ nói Trái Đất nằm lơ lửng trong không trung. Sự thật như đã nói, cái cục Trái đất mà người ta nói là Trái đất thì chính là vật chất bồi tụ vùng gần khối tâm của bản thể chủ Trái Đất. Nếu đem loại trừ toàn bộ Mặt Trăng và không khí xung quanh Trái Đất thì phần xung quanh Trái Đất chính là chân không, là trường nội tại của bản thể chủ Trái Đất. Nếu đem loại trừ tất cả vật chất bồi tụ (cát, đất, nước, không khí, Mặt Trăng,...) thì còn lại bản thể chủ Trái Đất. Nó là một bản thể vật chất.
Cứ như vậy, Nhat Phu Ho, cái bản thể này nằm trong bề mặt cái bản thể khác, hoặc nhiều bản thể nằm trong bề mặt bản thể khác. Cứ như thế, tương tự như thế. Vũ trụ này là vậy. Món thứ ba, tôi đã giảng xong. Nếu ông cần hỏi cho rõ thì ông cứ hỏi. Tôi sẵn lòng giảng tường tận cho ông.

 Nhat Phu Ho:
A Di Đà Phật. Việc này quá quan trọng. Con không thể hiểu qua loa được. Mong Sư phụ thông cảm cho con quán sát thêm.

Pháp Không Chân Như:
Chư vị có gì thắc mắc hoặc chưa rõ món thứ ba thì hãy hỏi tại đây luôn nhé.

Quảng Pháp:
Nam mô Phật. Bạch Sư phụ, Sư phụ giảng con đã rõ rồi. Con xin được nghe Sư phụ giảng tiếp. Nam mô Sư phụ.

Chân Như Tuệ Không:
Nam mô Phật. Thưa Sư phụ, con xin được nghe Sư phụ giảng tiếp ạ! Nam mô Bồ Tát.

Chân Như Tuệ Quang:
Thưa Sư phụ cho con hỏi:
Sư phụ nói cái cục Trái Đất, Mặt Trăng và không khí là những vật chất (là những bản thể khác bản thể chủ Trái Đất) bồi tụ bên trong bề mặt của bản thể chủ Trái Đất và hình thành cái cục Trái Đất, Mặt Trăng, không khí.
Cái cục Trái Đất, Mặt Trăng và không khí là những vật chất bồi tụ của những bản thể khác bản thể chủ của Trái Đất. Vậy những vật chất bồi tụ (đất, nước, cát, đá, cây, nhà cửa, không khí,...) có phải là trường tương tục của những bản thể không ạ? Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.

Pháp Không Chân Như:
Tôi không hiểu câu hỏi của Chân Như Tuệ Quang.

Chân Như Tuệ Quang:
Sư phụ nói cái cục Trái Đất, Mặt Trăng và không khí là những vật chất (là những bản thể khác bản thể chủ Trái Đất) bồi tụ bên trong bề mặt của bản thể chủ Trái Đất và hình thành cái cục Trái Đất, Mặt Trăng, không khí.
Cái cục Trái Đất, Mặt Trăng và không khí là những vật chất bồi tụ của những bản thể khác. Vậy những vật chất bồi tụ (đất, nước, cát, đá, cây, nhà cửa, không khí,....) có phải là chất liệu vật chất của bản thể không ạ?

 Pháp Không Chân Như:
Tôi giảng thế nào mà Chân Như Tuệ Quang lại hỏi đất, nước,... có phải là chất liệu của bản thể. Tôi đã tuyên bố chất liệu của bản thể vật chất là chân không, không có chất liệu nào khác.
Đất, nước,... là do những bản thể vật chất hợp thành mà những bản thể này có trường nội tại là chân không. Vậy nên, đất, nước,... cũng chỉ có chân không làm chất liệu, không có thứ chi khác. Những bản thể bồi tụ trong bản thể Trái đất, chúng hợp với nhau thành đất, nước,... mà ông thấy. Những thứ bản thể bồi tụ này, hay nói những thứ đất, nước,... không phải là chất liệu của bản thể chủ Trái đất. Mỗi bản thể có một lượng chất liệu là lượng chân không độc lập. Trong đó, không có bất cứ giá trị nào thuộc bản thể khác.
Muốn thâm nhập thật tướng thì trước hết không chấp trước, tức không nên dựa vào hay căn cứ cái biết trước đây. Chỉ dùng cái biết trước đây như một đối tượng tham chiếu khách quan mà thôi. Nếu chấp trước thì sự hiểu của chư vị sẽ loạn và không hiểu gì hết.
Khi đọc lời giảng của tôi thì cố gắng đọc cho kỹ từng từ, từng câu. Nếu chư vị nghe tôi giảng chỉ để biết giống như đọc báo thì chẳng có lợi ích thật sự. Cố gắng ghi nhớ những lời nhắc của tôi.
Cái cục Trái Đất, Mặt Trăng và không khí là những vật chất (là những bản thể khác bản thể chủ Trái Đất) bồi tụ bên trong bề mặt của bản thể chủ Trái Đất và hình thành cái cục Trái Đất, Mặt Trăng, không khí. Có nghĩa là tôi nói đất, nước, đá,., không khí là những vật chất (tức cũng là những bản thể khác, không phải bản thể chủ Trái đất) bồi tụ vào bản thể chủ Trái đất. Những thứ bồi tụ này hợp thành cục Trái đất, Mặt Trăng, không khí,... đang nằm bên trong bề mặt của bản thể chủ Trái đất. Chúng không phải là chất liệu của bản thể chủ Trái đất. Chúng và bản thể chủ Trái đất là những thứ độc lập với nhau. Ví như viên bi sắt nằm bên trong bề mặt quả cầu thủy tinh (tôi đã ví dụ ở Phẩm mở đầu). Viên bi sắt và quả cầu thủy tinh là hai thứ độc lập với nhau. Viên bi sắt chẳng phải là chất liệu của quả cầu thủy tinh. Viên bi sắt cũng chẳng nằm trong quả cầu thủy tinh. Viên bi sắt dụ cho các bản thể bồi tụ, quả cầu thủy tinh dụ cho bản thể chủ Trái đất. (Chư vị hoan hỷ xem ảnh 4).


Ảnh 4

 Chân Như Tuệ Quang: 
Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ. Con đã rõ, xin Sư phụ giảng tiếp ạ.

 Quảng Pháp:
Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.

 Chân Như Tuệ Không:
 Nam mô Phật. Nam mô Sư Phụ.

Chân Như Vô Ngại:
Con thưa Sư phụ, con còn câu hỏi để hiểu cho rõ về khái niệm trường nội tại. Con không phân biệt được câu hỏi nào dưới đây, câu nào đúng, con nhờ Sư phụ giảng giải cho con ạ.
Nói "trường tương tục của bản thể Phật tánh là chất liệu Phật tánh" đúng, hay "trường nội tại của bản thể Phật tánh là chất liệu Phật tánh" đúng ạ?
Nói "trường nội tại của Vũ Trụ là chân không và chất liệu Phật tánh" đúng, hay nói "trường nội tại của Vũ Trụ là chân không" đúng ạ?
Còn khi nói về mỗi Phật tánh và mỗi bản thể vật chất thì dùng từ trường tương tục con hiểu rồi ạ. Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Vô Ngại! Nói trường tương tục và trường nội tại thì có thể giống nhau, cũng có thể khác nhau, tùy thuộc ngữ cảnh mà ta đang dùng. Trường nội tại chỉ cho trường chất liệu thuộc một đối tượng mà ta đang nói đến như Vũ Trụ, một bản thể, một thực thể, một vật thể,... Trường tương tục chỉ cho trường chất liệu tương tục với nhau, không có gián đoạn. Trường tương tục có thể chỉ cho trường nội tại mà trường chất liệu đó tương tục, có thể chỉ cho một vùng không gian có nhiều bản thể, vật thể, thực thể mà trong vùng đó không có gián đoạn.
Trường nội tại có thể gián đoạn nhưng trường tương tục thì không gián đoạn. Trường nội tại chỉ cho vùng nội tại của một đối tượng, còn trường tương tục có thể chỉ cho một đối tượng hoặc một vùng có nhiều đối tượng với điều kiện trường chất liệu trong vùng đó không gián đoạn.
Đối với thật tướng của Vũ Trụ, vì trường nội tại của tất cả bản thể vật chất, hữu tình đều là trường tương tục và trường chân không của Vũ Trụ không có gián đoạn nên có thể nói trường nội tại của Vũ Trụ là trường tương tục, gồm có một trường chân không tương tục và vô số trường chất liệu Phật tánh tương tục. Các trường này đều đồng nhất với nhau. Khi đang nói về vật chất, có thể chỉ nói trường nội tại của Vũ Trụ là chân không.
Nói như sau là đúng:
Trường nội tại của Phật tánh là trường tương tục. Trường nội tại của Phật tánh là chất liệu Phật tánh. Chất liệu Phật tánh là trường tương tục.
Trường nội tại của bản thể vật chất là trường tương tục. Trường nội tại của bản thể vật chất là chân không. Chân không là trường tương tục.

Chân Như Vô Ngại:
Dạ. Con đã rõ rồi ạ. Con xin cám ơn Sư phụ. Con xin nghe Sư phụ giảng tiếp ạ. Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.

Pháp Không Chân Như:
Chư vị không có nghi ngờ gì chăng? Tại sao lại không có nghi ngờ trong khi văn tự tôi dùng có khác văn tự của Phật đã dùng, và những kết quả khoa học hiện đại hầu như khác với những gì tôi tuyên bố ở đây.

Quảng Pháp:
Nam mô Phật. Bạch Sư phụ, con không có nghi ngờ gì. Từ trước đến nay con vẫn không tin tưởng hoàn toàn vào khoa học. Còn văn tự Sư phụ dùng khác Phật nhưng không trái với lời Phật dạy, con nghĩ là bình thường. Bởi Phật đã nói: Những điều ta biết như lá cây rừng, những điều ta nói như lá cây nằm trong bàn tay. Nam mô Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Sư Phụ.

Chân Như Bồ Đề:
Nam Mô Phật! Con cũng không có nghi ngờ gì. Với con, văn tự của Phật dùng, và những kết quả khoa học hiện dùng con đều không biết vì con chưa tìm hiểu.
Mong mọi người hoan hỷ ạ. Hiện tại con chỉ biết học, cố gắng hiểu và hành các pháp của Sư Phụ dạy. Cùng với những tri kiến của các vị Sư huynh, Sư tỷ. Con xin tri ân công đức của mọi người. Nam Mô Phật!

Chân Như Tuệ Không: 
Nam mô Phật. Thưa Sư phụ, con không có nghi ngờ gì. Còn văn tự của Phật đã dùng, và những kết quả của khoa học hiện đại con chưa tìm hiểu nên con không biết ạ.
Con cố gắng hiểu kỷ và hành trì những lời Sư phụ đã truyền dạy. Nam mô Sư Phụ.

Chân Như Vô Ngại:
Con thưa Sư phụ, con xin hỏi thêm về proton và electron.
Trong hình ảnh 2, ví dụ về nguyên tử Heli. Con thấy vùng màu xám là trường nội tại của proton. Vùng màu tím có phải là electron không ạ. Nếu vậy, hai vùng màu tím là 2 electron. Mỗi electron là một bản thể vật chất ạ? Con chưa hiểu chỗ này.
Khoa học nói có rất nhiều proton và rất nhiều electron. Vậy các electron và các proton ở đây có phải là các bản thể có khối lượng gần giống nhau phải không ạ? Các bản thể đó, khoa học không phân biệt được nên gọi chung là proton và electron phải không ạ?
Xin Sư phụ chỉ rõ cho con ạ. Nam mô Phật.

Pháp Không Chân Như:
Khoa học mô tả như thế nào về nguyên tử, và nguyên tử Heli gồm những gì vậy Chân Như Vô Ngại?

Chân Như Vô Ngại:
 Con thưa Sư phụ, con xin trình bày sự hiểu của con về nguyên tử theo khoa học ạ.
1. Về khái niệm.
Nguyên tử là thành phần cơ sở hình thành mọi vật chất. Mỗi loại nguyên tử gọi là nguyên tố hóa học.
(con xin phép Sư phụ được dùng phép dụ để bạn đọc không thấy khó hiểu về định nghĩa ạ: Nếu ngôi nhà được hình thành từ các viên gạch thì ngôi nhà dụ cho vật chất được tạo thành, còn mỗi viên gạch dụ cho nguyên tử, là thành phần cơ sở tạo thành ngôi nhà. Mỗi loại gạch dụ cho một nguyên tố).
2. Về cấu tạo nguyên tử.
Mỗi một nguyên tử được tạo thành từ 3 loại hạt: hạt proton (p), hạt neutron (n) và hạt electron (e). Ba hạt này tạo thành hai phần (vùng) là phần nhân và phần vỏ. Phần nhân cấu tạo bởi hạt p và hạt n. Phần vỏ là các hạt e chuyển động xung quanh nhân.
Trong một nguyên tử, số lượng hạt p luôn bằng số lượng hạt e; hạt p mang điện tích dương, hạt e mang điện tích âm, còn hạt n không mang điện.
Số lượng hạt p, hạt e, hạt n trong nguyên tử là khác nhau thì ứng với các nguyên tử của các nguyên tố khác nhau.
Hiện nay, có 118 nguyên tố hóa học trên Trái Đất được sắp xếp thứ tự từ 1 đến 118, là chiều tăng dần của số p trong hạt nhân nguyên tử.
Nguyên tố đầu tiên là Hidro (H): nguyên tử có 1 proton.
Nguyên tố thứ 2, là Heli (He): nguyên tử có 2 proton.
Nguyên tố thứ 3, là Liti (Li): nguyên tử có 3 proton.
....
Dưới đây là hình mô tả cấu trúc của 2 nguyên tử Heli và nguyên tử Liti (Chư vị hoan hỷ xem ảnh 5).

Ảnh 5

3. Về khối lượng.
- Khối lượng của nguyên tử = tổng khối lượng của 3 hạt p, n, e
- Khối lượng của hạt p = 1u
- Khối lượng của hạt n = 1u
- Khối lượng của hạt e = 55x10^(-5) (u)
(khối lượng hạt p và hạt n lớn gấp 1386 lần khối lượng hạt e).
Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Vô Ngại!
Trước hết, tôi nói cho ông nghe về cái khái niệm khối lượng để tránh hiểu nhầm khi tôi dùng từ khối lượng.
Ở ĐÂY, tổng lượng giá trị nội tại của một bản thể vật chất là một giá trị đặc trưng cho bản thể đó. Giá trị này là lượng chân không của bản thể đó. Mỗi bản thể vật chất có một lượng giá trị nhất định, không bao giờ thay đổi cho dù đặt nó ở đâu và vào lúc nào trong Vũ Trụ. Luôn phải lưu ý điều này.
Đối với con người và khoa học hiện nay, họ dùng khối lượng để chỉ cho lượng giá trị đặc trưng của vật chất. Nói về mặt khái niệm này thì nó có thể áp dụng cho tổng lượng giá trị nội tại của một bản thể vật chất như ở trên. Có nghĩa là có thể dùng khối lượng để chỉ cho lượng giá trị đặc trưng của một bản thể. Hiện nay, cũng chỉ có thể như vậy.
Tuy nhiên, khối lượng hiện nay được xác định trên cơ sở lực hút của Trái đất. Tức là, mọi thiết bị, phương tiện đo lường khối lượng hiện nay dựa trên một nền tảng của khoa học cơ sở là tương quan lực hút của Trái đất với vật thể cần đo khối lượng. Và vì vậy, chỉ số đo khối lượng cho một vật thể nào đó có thể cho ra kết quả khác nhau khi đặt vật thể đó ở Trái đất với khi đặt vật thể đó ở một hành tinh nào đó. Chỉ số đo khối lượng trên cùng một vật thể thay đổi như vậy là do nền tảng lý thuyết tạo ra thiết bị đó chứ không phải lượng giá trị của vật thể đó thay đổi.
Vậy nên, khi tôi dùng từ khối lượng để diễn đạt, thì phải hiểu rằng, nó không thay đổi cho dù dùng thiết bị đo cho thấy sự thay đổi đối với một vật thể hay một bản thể xác định nào đó ở những hành tinh, vị trí khác nhau trong Vũ Trụ. Chứ đừng thấy giá trị đo thay đổi rồi lại nói tôi nói sai. Phương tiện tôi dùng để diễn đạt về lượng giá trị của một bản thể vật chất là khối lượng. Đây là một phương tiện diễn đạt, và hiện nay, cũng chỉ có phương tiện ngôn ngữ này để người nghe dễ hiểu.
Chân Như Vô Ngại! Bây giờ ông hãy nhìn vào mô hình cấu tạo nguyên tử Heli (như ông đã trích dẫn). Tại đó, khoa học cho rằng nguyên tử Heli được cấu tạo bỡi các electron quay XUNG QUANH một trung tâm và tại trung tâm đó, họ gọi là HẠT NHÂN. Họ nói hạt nhân bao gồm các hạt proton và neutron. Tức là họ cho rằng hạt proton và neutron thì nằm ở một vùng trung tâm của nguyên tử. Họ nói về nguyên tử là như vậy, hạt nhân là như vậy.
Sự thật không phải như họ đã nhìn thấy. Sự thật, hạt proton không nằm trong nhân của nguyên tử. Cái mà họ gọi là hạt proton nằm tại trung tâm của nguyên tử chỉ là một phần không gian của proton mà thôi. Nghĩa là sự thấy của họ chỉ thấy vùng trung tâm của proton. Và họ kết luận rằng cái mà họ thấy đó chính là proton. Sự thấy này sai sự thật. Sự thấy này của họ giống như sự thấy sai lầm của chư vị về ngọn đèn to bằng nắm tay.
Giới hạn không gian của một nguyên tử chính là giới hạn không gian của proton. Và sự thật là, các electron đang nằm bên trong bề mặt ngoài của proton chứ không phải đang nằm bên ngoài bề mặt ngoài của proton. Họ cho rằng các electron đang quay "xung quanh" hạt nhân, còn hạt nhân thì bao gồm neutron và proton. Không phải vậy. Các electron đang nằm bên trong bề mặt ngoài của proton và không đang nằm trong vùng khối tâm của proton. Cái tri kiến sai lầm là họ cho rằng các electron quay xung quanh hạt nhân giống như cái tri kiến sai lầm rằng họ cho rằng Mặt Trăng quay quanh Trái đất. Sự thật Mặt Trăng đang nằm bên trong bề mặt của bản thể chủ Trái đất, và đang quay quanh khối tâm của bản thể chủ Trái Đất chứ không phải quay quanh Trái Đất. Mặt trăng đang nằm bên trong bề mặt ngoài của bản thể chủ Trái đất, đang chen lấn trường nội tại của bản thể chủ Trái đất.
Giống như chư vị nói chư vị đi xung quanh một ngọn đèn. Sự thật chư vị đang đi xung quanh khối tâm của ngọn đèn và chư vị đang chen lấn trường nội tại của ngọn đèn chứ không phải đang đi xung quanh ngọn đèn.
Chân Như Vô Ngại! Theo ông đã hỏi thì ở khối tâm của hình chụp hạt nhân Heli có 2 cái cục màu tím và 2 cái cục màu hồng. Ở đây ta thấy 4 cục. Sự thật, ở đó có hai cục là hai hạt neutron và 2 cục còn lại là khối tâm của hai hạt proton. Nó không phải là 2 electron. Hình này không thấy được 2 electron. Nguyên nhân không nhìn thấy thì tôi giảng rồi.
Chân Như Vô Ngại! Một electron là một bản thể vật chất. Một proton là một bản thể vật chất. Tôi tuyên bố như thế. Hai bản thể này khác nhau về lượng giá trị.
Trong Vũ Trụ có vô số bản thể vật chất khác nhau về lượng giá trị, từ vô cùng bé đến vô cùng lớn, cũng có vô số bản thể giống nhau về lượng giá trị. Tôi tuyên bố như thế.

Chân Như Vô Ngại:
Dạ con cám ơn Sư phụ. Con xin hỏi thêm ạ.
Như vậy, thực tế nguyên tử He được tạo bởi 4 proton và 4 electron. Bốn proton và 4 electron này là 8 bản thể vật chất đúng không ạ, như hình vẽ này của Sư phụ ạ? (Chư vị hoan hỷ xem ảnh 6).
Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.


Ảnh 6

Pháp Không Chân Như: 
Chân Như Vô Ngại nói như vậy là đúng. Nhưng cũng chưa đúng. Nói cấu trúc cơ bản là đúng. Sự thật có thể có một hoặc nhiều bản thể khác tám bản thể đó đang bồi tụ trong nguyên tử như hạt bụi trong bầu khí quyển, chẳng thể luận bàn được.

Chân Như Vô Ngại:
Dạ. Con đã hiểu những lời Sư phụ dạy ở trên rồi ạ. Con chân thành cám ơn Sư phụ. Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.

Nguyên Văn Lộc:
Ngôn ngữ chữ viết đều là phương tiện có giới hạn giúp tất cả thành người tốt! Phật pháp không thể nói bằng lời hoặc dùng vật này vật kia để miêu tả! Mà là tâm minh để nhìn ra sự tỉnh lặng SẮC BẤT THỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT THỊ SẮC! A DI ĐÀ PHẬT!

Pháp Không Chân Như: Khẩu Ý muốn nói rằng sắc tức thị không, không tức thị sắc thì trước hết phải hiểu thấu về vật chất trong toàn thể Vũ Trụ. Nếu không, chư vị không nên nhắc đến nữa vì chư vị chẳng bao giờ thấu hiểu được câu đó, dù tu hết kiếp này hay trong vô lượng kiếp sau. Chư vị nên dứt trừ cái thói quen giảng nói cho người khác nghe mà mình chẳng hiểu.

Nguyên Văn Lộc:
Con đã thông suốt! Chúc thầy luôn an lạc! Nam mô A Di Đà Phật.

Pháp Không Chân Như:
Chư Phật tử! Bài này giảng về 10 món của Phật. Trong tất cả các thứ báu nhất của loài người mà lại khó gặp nhất, thì gặp Phật là quý báu nhất, khó gặp nhất. Nghe giảng về 10 món của Phật là thứ quý báu thứ nhì, khó gặp thứ nhì. Nên chư vị hãy nghiêm túc lắng nghe, quán xét, thấu hiểu. Nếu có bất cứ chỗ nào chưa hiểu rõ, chỗ nào nghi ngờ, chỗ nào mà mình thấy không đúng, chưa đúng thì phải hỏi, phải nói, phải phản biện cho đến khi những thắc mắc, nghi ngờ không còn và cho đến khi hiểu thấu. Đừng có xem đây chỉ như lời của quý Sư phụ, lời của nhà khoa học, của nhà thần học, của học giả, của nhà triết học, của các sư Tổ như các vị đã từng biết. Chư vị hãy lĩnh hội tất cả những gì tôi biết. Nam mô Phật.

Chân Như Vô Ngại:
Dạ. Con xin làm theo lời Sư phụ dạy ạ. Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.

Pháp Không Chân Như:
Vậy thì hãy hỏi, hãy phản biện cho đến cùng trước khi tôi giảng món tiếp theo.

Chân Như Tuệ Không:
Nam mô Phật. Thưa Sư phụ, con xin được hỏi.
Về bản thể vật chất. Chất liệu của bản thể vật chất là chân không. Lượng chất liệu trong một bản thể phân bố không đều. Con giả dụ chân không có màu xanh. Như vậy một vị Đại Giác ngộ sẽ thấy Vũ Trụ toàn là chân không. Tức thấy toàn màu xanh, thì có phải thấy những nơi màu xanh đậm hơn (nơi mật độ chân không cao của một bản thể), thấy những nơi màu xanh nhạt hơn (nơi mật độ chân không thấp của một bản thể), có phải như vậy không ạ? Nam mô Phật.

Pháp Không Chân Như:
Đúng vậy Chân Như Tuệ Không. Nhưng không phải thấy bằng mắt mà bằng sự tiếp xúc trực tiếp giữa chất liệu Phật tánh và chất liệu vật chất (chân không).

Chân Như Tuệ Không:
 Nam mô Phật. Vâng ạ! Con xin cảm ơn Sư phụ.
Thưa Sư phụ, con xin được hỏi tiếp. Trong Vũ Trụ có vô số bản thể vật chất giống nhau, vô số bản thể vật chất khác nhau. Như vậy thì các thể rắn, lỏng, khí được cấu tạo nên bỡi các hạt vật chất (gọi là electron và proton), thì tất cả electron đều giống nhau hay khác nhau. Tất cả proton đều giống nhau hay khác nhau, thưa Sư phụ?
Và những hạt được gọi electron, proron có mặc định luôn như vậy hay thay đổi tên gọi tùy lúc ạ? Con ví dụ khi hạt A chen lấn vào không gian của hạt B. Thì hạt A là electron, hạt B là proton. Khi hạt B chen lấn vào không gian hạt C, thì hạt B là hạt electron, hạt C là proton. Sư phụ giảng dạy cho con ạ!
Nam mô Phật. Nam mô Bồ Tát.

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Tuệ Không! Không thể nói rằng TẤT CẢ các proton giống nhau hay có khác nhau. Khác nhau một lượng giá trị vô cùng bé cũng là khác nhau. Nếu bỏ qua sự sai khác nhỏ thì gọi là giống nhau. Nếu không bỏ qua sự sai khác thì chúng khác nhau. Khi chúng có khối lượng bằng nhau thì gọi là giống nhau. Electron cũng vậy.
Trong Vũ trụ có vô số bản thể, có vô số bản thể giống nhau về khối lượng, có vô số bản thể khác nhau về số lượng. Sự khác nhau đó giống như những con số vậy. Số 1 và 2 là khác nhau. Số 1 và số 999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999 là khác nhau. Số 1 và số 1,1 là khác nhau. Số 1 và số 1,000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000000001 là khác nhau... Sự khác nhau chẳng thể nghĩ bàn như vậy sao lại còn hỏi về nó.
Còn cái tên thì do người ta đặt, muốn đặt sao thì tùy, chúng ta không thể quy ước cho con người được. Tôi gọi bản thể chủ của Mặt trăng là elctron của hệ Trái đất cũng được vậy. Tôi gọi hệ Trái đất là nguyên tử của hệ Mặt trời cũng được vậy. Có ai cấm tôi đặt như thế.
Tôi thấy chư vị chưa biết hỏi về Phật Pháp. Điều cần hỏi lại không hỏi, điều không nên hỏi thì lại hỏi.
Khi ta biết rằng trong Vũ trụ có vô số bản thể vật chất, có vô số bản thể có khối lượng giống nhau, có vô số bản thể có khối lượng khác nhau. Nghe như vậy thì đã biết không thể nghĩ bàn về số lượng cũng như sự khác nhau như thế nào. Có ai rảnh mà đi đo lường từng hạt như thế, cũng chẳng có ai đủ thời gian để làm việc đó, cũng chẳng có thiết bị nào có thể đo được sự khác nhau vô cùng bé...

Chân Như Tuệ Không:
Nam mô Phật. Thưa Sư phụ, vâng ạ!
Vì chất liệu của hạt vật chất là không gian, chỉ là không gian. Nhưng những vật chất mà con nhìn thấy được, chúng không giống nhau. Nên con có nghi vấn như trên. Giờ con nhận thấy điều này không nên hỏi. Mong Sư phụ hoan hỷ cho con. Nam mô Phật

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Tuệ Không nói "Vì chất liệu của hạt vật chất là chân không, chỉ là chân không. Nhưng những vật chất mà con nhìn thấy được, chúng không giống nhau.". Tại sao không dùng câu này để hỏi, chẳng phải rất nên hỏi hay sao?

Chân Như Bồ Đề:
Vậy con xin phép con hỏi cho ạ!
Vì sao chất liệu của hạt vật chất là chân không? Một trường tương tục như thế, không có gì khác, nhưng con thấy khác, đủ thứ khác nhau hết. Tại sao vậy ạ? Nam Mô Phật!

Pháp Không Chân Như:
Sau khi giảng xong món thứ năm thì tôi sẽ trả lời câu hỏi của Chân Như Bồ Đề hoặc là khi tôi giảng món thứ năm thì cũng là câu trả lời cho câu hỏi này.

Nguyên Văn Lộc:
Nhờ Sư phụ con được hiểu thêm! Bản thể vật chất và Phật tánh đều có thật, còn các thứ còn lại đều là giả hợp phải không? Mong Sư phụ giảng giải cho con hiểu thêm.

Pháp Không Chân Như: 
Đúng vậy, Nguyên Văn Lộc. Và bản thể vật chất có thật này cũng chỉ là chân không mà thôi.

PHẨM THỨ TƯ: PHẬT BIẾT RÕ BẢN THỂ HỮU TÌNH  THÌ NHƯ THẾ NÀO.

Sau khi được nghe phẩm “Phật – A Di Đà – Căn Bổn Bí Mật Tạng”, Phật tử Hưng Long mong muốn được hiểu rõ tường hơn về thể tánh của Như Lai. Phật tử Hưng Long thưa:

Giai thoại này quả là khó hiểu. Ngài có thể chỉ giúp và lấy ví dụ cụ thể để hiển bày chất liệu của bản thể chư Phật được không ạ. Ngài nói về chất liệu của bản thể và bản thể của chư Phật nhưng ngài cũng lại nói “ngôn ngữ của con người không có từ nào có nghĩa về chất liệu này”. Vậy thì phải hiểu như thế nào đây, xin ngài lấy ví dụ để chỉ thế nào là chất liệu của bản thể và bản thể của chư Phật là như thế nào? Xin ngài khai thị cho Hưng Long ạ. Nam mô A Di Đà Phật.

Hưng Long! Tôi sẽ hồi đáp nguyện vọng của ông. Nguyện ông sớm trọn thành Phật đạo.

Hưng Long hoan hỷ: A Di Đà Phật, Hưng Long xin tri ân công đức của ngài, thưa ngài Pháp Không Chân Như.

Chư Phật tử! Trong lần thuyết về nơi trụ xứ của Phật A Di Đà vừa rồi, tôi đã đặt tên cho phẩm ấy là “Phật – A Di Đà – Căn Bổn Bí Mật Tạng”. Tại sao lại nói là tạng bí mật? Với thể tánh của Như Lai, chúng sinh không thể thấy bằng mắt, không thể nghe bằng tai, không thể ngửi bằng mũi, không thể nếm bằng lưỡi, không thể cảm bằng thân, không thể biết bằng ý. Vì thể tánh của Như Lai chẳng phải sắc, chẳng phải thanh, cũng chẳng phải hương, vị, xúc, pháp. Vì không thể thấy, không thể nghe, không thể ngửi, không thể nếm, không thể cảm, không thể biết bằng lục căn nên thể tánh của Như Lai luôn là kho tàng bí mật đối với chúng sinh.

Chư Phật tử! Mọi thứ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chẳng thể so sánh đồng như thể tánh của Như Lai. Chẳng có gì sánh bằng thể tánh của Như Lai. Vì vậy mọi ví dụ để diễn đạt về thể tánh của Như Lai và thể tánh của Như Lai thì chẳng được tương đồng. Nhưng vì thương tưởng, phổ độ chúng sinh nên chư Phật, Bồ tát thị hiện, lấy hiện tượng để làm ví dụ cho thật tướng, lấy loại vô tình để làm ví dụ cho loại hữu tình, lấy sắc ví dụ cho thứ chẳng phải sắc, lấy thanh ví dụ cho thứ chẳng phải thanh, nhẫn đến hương, vị, xúc pháp cũng đều như vậy. Chư Phật, Bồ tát làm như vậy là để cho chúng sinh có được sự hiểu biết nhất định về tự tánh chân thật của mọi tồn tại, giúp cho chúng sinh làm cơ sở để tự khai thông trí huệ mà đạt được cái biết vô ngại.

Này chư Phật tử! Ví như một người bị bệnh tiểu ra máu. Một vị lương y thấy người này bị bệnh tiểu ra máu nên đã chỉ cho người bệnh sử dụng rau sam để điều trị. Người bệnh chẳng biết rau sam là rau như thế nào, mùi vị thế nào, hình dáng ra sao và ở đâu có nó. Tại nơi ở của người bệnh cũng chẳng có rau sam. Vị lương y vì muốn giúp người này khỏi bệnh nên đã dùng cây này, lá nọ, vị này, hương kia làm ví dụ để mô tả về rau sam và hướng dẫn người bệnh nhận biết về nơi rau sam có thể mọc. Dẫu rằng những thứ mà vị lương y lấy làm ví dụ không phải là rau sam, cũng chẳng đồng như rau sam. Nhưng người bệnh nghe vậy nên có một sự hiểu biết nhất định về rau sam và cũng có sự biết nhất định về phương hướng tìm kiếm và nơi rau sam có thể mọc. Theo sự biết nhất định ấy, người bệnh bằng sự nỗ lực của mình đã tìm được rau sam và như thế nên đã biết rõ tường về rau sam, bệnh tiểu ra máu của người ấy đã được điều trị khỏi.

Cũng như vậy, chư Phật, Bồ tát vì muốn phổ độ chúng sinh nên đã sử dụng pháp thế gian để diễn đạt về tự tánh chân thật của mọi tồn tại. Chứ pháp thế gian chẳng thể sánh đồng như tự tánh chân thật của mọi tồn tại.

Và này chư Phật tử! Rau sam có tác dụng điều trị bệnh tiểu ra máu cho người không đang mang thai, không phải là người tỳ vị hư hàn, không bị tiêu chảy. Nhưng nó là thuốc độc đối với người đang mang thai, người tỳ vị hư hàn, người bị tiêu chảy.

Cũng như vậy, không phải bất cứ giáo pháp nào của chư Phật, Bồ tát cũng có thể áp dụng chung cho tất cả chúng sinh. Tùy theo công đức tu tập tích tụ được mà áp dụng giáo pháp phù hợp với chính mình. Ví như hành giả chưa tu trì giáo pháp về vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh thì chẳng nên tu trì giáo pháp về thường, lạc, ngã, tịnh.

Chư Phật tử! Hiện nay công nghệ thông tin có thể chuyển tải thông tin đến với tất cả mọi người. Và như vậy, một bài thuyết pháp chân thật cũng có thể được truyền đến tất cả mọi người. Điều này có ý nghĩa gì? Nghĩa là một bài thuyết pháp dành cho kẻ có nhiều công đức thì kẻ có ít hoặc chẳng có công đức cũng nghe thấy nó. Đối với công nghệ như vậy, trong trường hợp như vậy, bậc thiện tri thức thuyết pháp không thể ngăn chặn được đối tượng không phù hợp nghe thấy. Đối với công nghệ như vậy, trong trường hợp như vậy, chư Phật tử phải biết chọn lựa giáo pháp phù hợp với chính mình, chớ nên đốt cháy giai đoạn tu trì.

Này chư Phật tử! Khi tôi diễn nói về thể tánh của Như Lai, tức là bản thể của Như Lai, tức cũng là nói về Phật tánh của mỗi chúng sinh. Mỗi chúng sinh đều có vị Phật chính mình. Vị Phật chính mình chính là Phật tánh của chính mình. Thể tánh của Như Lai và Phật tánh của chúng sinh thì chẳng phải hai loại khác nhau.

Ví như nước nguyên chất và nước muối. Nước nguyên chất dụ cho thể tánh của Như Lai. Nước trong nước muối dụ cho Phật tánh của mỗi chúng sinh. Nước muối dụ cho chúng sinh. Nước muối có vị mặn là vì trong hỗn hợp nước muối có muối. Vị mặn đó là vị mặn của muối chứ chẳng phải vị mặn của nước. Nước trong nước muối là nước nguyên chất, nước trong nước muối chẳng phải là nước muối, chẳng có muối và chẳng có vị mặn. Nếu đem chưng cất nước muối, loại trừ muối thì sẽ nhận được nước nguyên chất. Nước nguyên chất nhận được và nước trong nước muối chẳng có sai khác. Nước trong nước muối chẳng làm thay đổi muối và muối trong nước muối cũng chẳng làm thay đổi nước. Nước và muối là những tồn tại độc lập, nhưng vì muối nương vào nước nên gọi là nước muối vậy. Cũng như vậy, Phật tánh của mỗi chúng sinh không có sự sai khác nào, không có sự thay đổi nào so với thể tánh của Như Lai (của chính chúng sinh đó) khi chúng sinh thành Phật.

Chư Phật Tử! Hãy lắng nghe và khéo tác ý.
Thể tánh của mỗi Như Lai
Là một tồn tại độc lập sở hữu bỡi chính Như Lai đó, 
Sở hữu một loại chất liệu duy nhất, sở hữu độc lập một lượng chất liệu xác định, 
Quang minh của Như Lai là chất liệu của Như Lai, chất liệu của Như lai là quang minh của Như Lai,
Lượng quang minh của Như Lai là lượng chất liệu của Như lai, lượng chất liệu của Như Lai là lượng quang minh của Như Lai,
Không có cấu trúc nội tại, tức là một trường quang minh tương tục, 
Không bị bất cứ thứ gì phân chia, không tự phân chia, 
Không tự không còn tồn tại, không bị bất cứ thứ gì làm cho không còn tồn tại,
Không bị bất cứ thứ gì sinh ra, không tự sinh ra, 
Không tự biến đổi quang minh của Như Lai, không bị bất cứ thứ gì làm cho quang minh của Như Lai biến đổi, 
Không tự thay đổi lượng quang minh của Như Lai, không bị bất cứ thứ gì làm cho lượng quang minh của Như Lai thay đổi, 
Không tự sáp nhập với bất cứ thứ gì để không còn chính Như Lai đó, không bị bất cứ thứ gì sáp nhập để không còn chính Như Lai đó,
Thể tánh của mỗi Như Lai trùm khắp Vũ Trụ,
Quang minh của mỗi Như Lai ở khắp tất cả chỗ trong Vũ Trụ.

Này chư Phật tử! Hãy khéo phân biệt như vầy. Quang minh được nói ở đây là danh từ biểu thị nội dung, tài sản, trường nội tại của Như Lai, còn thể tánh của Như Lai là danh từ biểu thị hình thức của Như Lai. Ví như quả cầu thủy tinh là danh từ biểu thị hình thức của quả cầu làm bằng thủy tinh, còn chất liệu thủy tinh là danh từ biểu thị nội dung, tài sản, trường nội tại của quả cầu thủy tinh. Danh từ quang minh khi được nói như thế không đồng nghĩa với các danh từ: vật chất, phản vật chất, phi vật chất, vật chất tối, năng lượng, năng lượng tối, chất hóa học, nguyên liệu, vật liệu, hạt vật chất, linh hồn, ánh sáng, bức xạ.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nhắc đến thân kim cang bất hoại. Này chư Phật tử! Thân kim cang bất hoại có hai loại. Một là thể tánh của Như Lai. Hai là bản thể của vật chất, tức là hạt vật chất cội gốc, là thể dạng gốc rốt ráo của vạn vật. Bản thể vật chất thì bất hoại. Chúng sinh nương trụ ở bản thể vật chất thì có thân kim cang bất hoại. Trong phạm vi của bài giảng này, tôi không giảng về bản thể vật chất. Chư Phật tử hãy tìm hiểu nó trong các bài về tánh không do tôi giảng. Thể tánh của Như Lai là thân kim cang bất hoại. Ý này muốn nói rằng chất kim cang diễn đạt cho chất liệu của Như Lai, quang minh của Như Lai.

Ví như quả cầu thủy tinh trong suốt, bên trong quả cầu thủy tinh có một thanh kiếm làm bằng chất liệu mà ánh sáng có thể xuyên qua. Đem đặt quả cầu thủy tinh này ngoài trời đang nắng. Ánh sáng sẽ có mặt ở khắp tất cả vị trí trong quả cầu thủy tinh này, kể cả mọi vị trí bên trong thanh kiếm. Quả cầu thủy tinh dụ cho Vũ Trụ, những hạt thủy tinh và thanh kiếm dụ cho vạn vật trong Vũ Trụ. Ánh sáng trong quả cầu thủy tinh dụ cho quang minh của Như Lai. Toàn thể ánh sáng trong quả cầu thủy tinh dụ cho thể tánh của Như Lai. Ánh sáng có mặt ở khắp tất cả vị trí trong quả cầu kể cả mọi vị trí bên trong thanh kiếm cũng như quang minh của Như Lai có mặt ở khắp tất cả vị trí trong Vũ Trụ, kể cả mọi vị trí bên trong mọi vật. Toàn thể ánh sáng trong quả cầu thì trùm khắp quả cầu cũng như thể tánh của Như Lai thì trùm khắp Vũ Trụ.

Ví như bức xạ điện từ có mặt ở mọi vị trí trong Vũ Trụ, kể cả mọi vị trí trong mọi vật. Tạm xem toàn thể bức xạ điện từ trong Vũ Trụ như là một thực thể thống nhất. Thể bức xạ điện từ dụ cho thể tánh của Như Lai, bức xạ điện từ dụ cho quang minh của Như Lai. Bức xạ điện từ có mặt ở khắp tất cả vị trí trong Vũ Trụ, kể cả mọi vị trí trong mọi vật cũng như quang minh của Như Lai có mặt ở khắp tất cả vị trí trong Vũ Trụ, kể cả mọi vị trí trong mọi vật. Thể bức xạ điện từ thì trùm khắp Vũ Trụ cũng như thể tánh của Như Lai thì trùm khắp Vũ Trụ.

Ví như nồi canh đang sôi. Nước và mọi thứ đang được dùng để nấu canh đều bị nóng ở mọi vị trí trong nó. Tức là nhiệt đang có mặt ở khắp tất cả vị trí trong nồi canh, kể cả mọi vị trí trong nước và trong mọi thứ thực phẩm trong nồi. Nồi canh dụ cho Vũ Trụ, nước và mọi thứ thực phẩm trong nồi dụ cho vạn vật trong Vũ Trụ. Tạm xem toàn thể nhiệt trong nồi là một thể thống nhất. Thể nhiệt trong nồi dụ cho thể tánh của Như Lai, nhiệt dụ cho quang minh của Như Lai. Thể nhiệt thì trùm khắp nồi canh cũng như thể tánh của Như Lai thì trùm khắp Vũ Trụ. Nhiệt có mặt ở khắp tất cả vị trí trong nồi, kể cả mọi vị trí trong nước và trong mọi thứ thực phẩm trong nồi cũng như quang minh của Như Lai có mặt ở mọi vị trí trong Vũ Trụ, kể cả mọi vị trí trong vạn vật.

Ví như một hiệp sĩ đang múa kiếm, đường kiếm lướt trong không gian. Thanh kiếm đang chém trong không gian là đang chém trong thể tánh của Như Lai. Này chư Phật tử! Như Lai không bị đứt, không bị đau, không bị tổn thương. Như Lai không bị thanh kiếm làm hư hoại bất cứ chỗ nào trong thể tánh của Như Lai. Vì sao vậy? Vì quang minh của Như Lai ở khắp tất cả vị trí trong Vũ Trụ, kể cả mọi vị trí bên trong thanh kiếm và trên bề mặt thanh kiếm, và quang minh của Như Lai là trường tương tục. Cho nên quang minh của Như Lai chẳng thể bị tách, chẳng thể bị chia, chẳng thể bị đứt. Đường kiếm lướt trong thể tánh của Như Lai cũng giống như dùng thanh kiếm thủy tinh chém ánh sáng vậy, chẳng bị đứt quãng, chẳng bị chia cắt. Vậy nên nói thể tánh của Như Lai bất khả tư nghị. Chẳng thể đem cái biết về sự vật và hiện tượng của chúng sinh để mà so sánh, đối chiếu, cho rằng cũng giống nhau để luận bàn tánh bất hoại này của Như Lai. Không có thứ chi trong Vũ Trụ làm cho thể tánh của Như Lai bị hư hoại. Thể tánh của Như Lai là thân bất hoại.

Chư Phật tử! Tất cả thể tánh của mọi Như Lai đều như thế. Và vì như thế cho nên tại mỗi vị trí trong Vũ Trụ đều có quang minh của tất cả Như Lai. Tất cả vị trí trong Vũ Trụ đều như vậy. Còn thể tánh của mỗi Như Lai thì trùm khắp Vũ Trụ. Mỗi vị trí có đầy đủ quang minh của tất cả Như Lai nhưng chỉ tương ưng do tiếp xúc mà không sáp nhập. Này chư Phật tử! Quang minh của Như Lai bất khả tư nghị. Chẳng thể đem cái biết về sự vật hiện tượng của chúng sinh để mà so sánh, đối chiếu, cho rằng cũng giống nhau, cũng chồng chất, cũng sáp nhập để luận bàn tánh độc lập về quang minh của mỗi Như Lai.

Ví như có nhiều ngọn đèn cùng phát sáng trong phòng. Nếu tạm thời không xem xét tánh tán sắc, chồng chất của ánh sáng thì tại mỗi vị trí trong phòng đều có đầy đủ ánh sáng của tất cả các ngọn đèn và ánh sáng của ngọn đèn nào là của ngọn đèn ấy, không sáp nhập thành một. Quang minh của Như Lai cũng như vậy, tại mỗi vị trí đều có đầy đủ quang minh của tất cả Như Lai, quang minh của Như Lai nào là của Như Lai ấy, không sáp nhập thành một.

Chư Phật tử! Hãy luôn hiểu biết, luôn tưởng nhớ sự thật này. Đó là bất cứ vị trí nào bên trong thân thể của chư Phật tử hay bên ngoài thân thể của chư Phật tử đều có đầy đủ quang minh của tất cả Như Lai. Mọi suy nghĩ, tư tưởng, hành vi, hành động, việc làm, mọi cảm thọ của chư Phật tử thì tất cả Như Lai đều biết rõ ràng đầy đủ, không thiếu sót cho dù chư Phật tử đang ngủ, đang nằm, đang ngồi, đang đứng, đang đi, đang bay nhanh chậm thế nào.

Dối người, dối thiên, gạt quỷ nhưng không thể dối mình, dối Như Lai được. Tất cả hành thiện của chư Phật tử, tất cả Như Lai đều biết đầy đủ, không thiếu sót. Tất cả hành ác của chư Phật tử, tất cả Như Lai đều biết đầy đủ, không thiếu sót. Chư Phật tử phiền não, đau khổ, bất hạnh, tất cả Như Lai đều biết đầy đủ, không thiếu sót. Như Lai đều luôn thương tưởng chúng sinh, phổ độ cho chúng sinh, gia hộ cho chúng sinh. Công đức của Như Lai không thể nghĩ bàn như vậy. Như Lai tự biết và tự có chỗ làm vì chúng sinh. Chẳng phải nhờ chúng sinh nói, niệm mà Như Lai mới biết. Chẳng phải nhờ chúng sinh cầu mà Như Lai mới làm.

Chư Phật tử! Hãy luôn cố gắng tu trì để được chính mình như chưng cất nước muối để được nước nguyên chất, sống bằng chính Phật tánh của mình, an lạc, vĩnh hằng.

PHẨM THỨ NĂM: PHẬT BIẾT RÕ BẢN TÁNH CỦA BẢN THỂ VẬT CHẤT

Pháp Không Chân Như:
Chư Phật tử! Bản tánh của bản thể vật chất thì như thế nào?
Bản tánh của bản thể vật chất là những thuộc tánh cố hữu của bản thể vật chất. Những thuộc tánh này luôn tồn tại cùng với bản thể vật chất nên nói là thuộc tánh cố hữu của nó. Bản tánh của bản thể vật chất là nhân, là duyên sanh ra mọi sự vật hiện tượng trong Vũ Trụ mà chư vị thấy biết. Nói như vậy không có nghĩa rằng loại trừ cái thấy biết không chân thật của chư vị, của chúng sinh.
Bản tánh của bản thể vật chất được tôi phân chia thành ba bản bánh.
Một là tánh phân tranh thể tích riêng.
Hai là tánh phân bố có tâm.
Ba là tánh cân bằng.
Thế nào là tánh phân tranh thể tích riêng? Chư Phật tử!
Một là bản thể vật chất có bề mặt giới hạn. Hoặc là nó có một bề mặt duy nhất là bề mặt ngoài. Khi đó, bên trong bề mặt ngoài của nó không có bất cứ một bản thể khác. Hoặc là nó có bề mặt ngoài và bề mặt trong. Khi đó, bề mặt trong của nó là mặt tiếp xúc với bề mặt ngoài của bản thể khác đang nằm bên trong bề mặt ngoài của nó. Các bề mặt của một bản thể vật chất là giới hạn một thể tích của riêng nó. Bất cứ giá trị không gian nào nằm trên các bề mặt của nó và trong thể tích riêng của nó là thuộc sở hữu riêng biệt của bản thể đó. Không có một giá trị không gian nào của nó thuộc sở hữu của bản thể khác. Không gian trên các bề mặt của nó và trong thể tích riêng của nó chính là trường nội tại của bản thể đó.
Nếu ví quả cầu thủy tinh là một bản thể vật chất, ví viên bi sắt là một bản thể vật chất. Viên bi sắt nằm trong bề mặt ngoài của quả cầu thủy tinh. Thì quả cầu thủy tinh có hai bề mặt giới hạn. Đó là bề mặt ngoài và bề mặt trong. Bề mặt trong của quả cầu thủy tinh tiếp xúc với bề mặt ngoài của viên bi sắt. Toàn bộ thủy tinh trên các bề mặt của quả cầu thủy tinh và bên trong thể tích được giới hạn bỡi hai bề mặt này là trường nội tại của quả cầu thủy tinh, là chất liệu thuộc sở hữu riêng của quà cầu thủy tinh.
Chư vị có hiểu được không?

Chân Như Tuệ Quang:
Không gian trên "các bề mặt" của nó nghĩa là một bề mặt ngoài và nhiều bề mặt trong phải không Thầy (trường hợp bản thể có bề mặt ngoài và bề mặt trong)?

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Tuệ Quang! Các bề mặt của một bản thể gồm một bề mặt ngoài và một hoặc nhiều bề mặt trong nếu có.
Ở đây, Chư Phật tử, xét theo thế gian thì không gian, thể tích là một.
Xét theo sự thật thì chất liệu vật chất của bản thể, không gian là một. Không gian và thể tích tạm phân biệt để hiểu, tức mang hai ý nghĩa từ khác nhau. Thể tích biểu thị cho kích thước của không gian, không phải biểu thị giá trị của không gian, không phải biểu thị không gian. Nếu không hiểu được thì nên thay từ không gian thành từ chất liệu vật chất. Sau khi hiểu rồi lại gom chung từ không gian và chất liệu vật chất thành một. Vì hai thứ này là một.
Chư Phật tử! Bản thể vật chất thì có bề mặt giới hạn. Vì vậy, mỗi bản thể chiếm giữ độc lập một vùng thể tích trong Vũ Trụ như viên bi sắt chiếm giữ độc lập một vùng thể tích trong quả cầu thủy tinh. Trong vùng thể tích được giới hạn bỡi các bề mặt của nó thì không có mặt của bất cứ bản thể nào khác, không tồn tại bất cứ giá trị không gian thuộc sở hữu của bản thể nào khác. Mọi vị trí trên các bề mặt của bản thể cũng như vậy. Mọi bản thể vật chất đều có bản tánh này, bản tánh chiếm giữ một thể tích cho riêng mình. Ví như trên bề mặt Trái đất, mỗi quốc gia chiếm giữ một vùng diện tích cho riêng mình, có ranh giới, có vị trí định xứ, thể hiện chủ quyền độc lập của chính quốc gia đó. 
Luôn phải ghi nhớ đều này, Chư Phật tử! Đó là tất cả bản thể vật chất tạo thành một trường không gian liên tục của Vũ Trụ. Trong Vũ Trụ, không tồn tại bất cứ vị trí nào mà tại đó không có giá trị không gian thuộc về một bản thể nào đó. Tại bất cứ vị trí nào trong Vũ Trụ luôn tồn tại giá trị không gian của một bản thể nào đó. Tại bất cứ vị trí nào trong Vũ Trụ, giá trị không gian tại đó thuộc sở hữu của bản thể này thì không thuộc sở hữu của bản thể khác.
Chư Phật tử! Giá trị không gian tại một vị trí được gọi là cường độ không gian hoặc mật độ không gian. Như vậy. Chư Phật tử, mọi vị trí thuộc sở hữu của một bản thể, trên các bề mặt của nó hay bên trong giới hạn các bề mặt của nó, luôn có mật độ không gian. 
Thế nào là tánh phân tranh thể tích riêng? Chư Phật tử!
Một là như trên đã nói, mỗi bản thể vật chất có tánh phân biệt thể tích của riêng nó. 
Hai là, một bản thể vật chất luôn có tánh giãn nở ra ở mọi hướng, tánh này là tánh tranh giành thể tích. Với tánh này, mỗi bản thể có thể lấn chiếm, tranh gành thể tích của bản thể khác hoặc bị bản thể khác lấn chiếm, tranh giành thể tích. Nghĩa rằng, nó cũng có thể bị co lại do bị bản thể khác lấn chiếm, tranh giành thể tích.
Khi nào nó có thể lấn chiếm, tranh giành thể tích của bản thể khác? Chư Phật tử, khi mật độ không gian tại vị trí trên bề mặt của nó cao hơn mật độ không gian tại vị trí tiếp xúc với vị trí đó nhưng thuộc bề mặt của bản thể khác. Sự tranh giành này xảy ra cho đến khi mật độ tại hai vị trí đó cân bằng với nhau.
Ví như hai quốc gia láng giềng có tánh tranh giành diện tích giống như tánh tranh giành thể tích của bản thể vật chất. Tại biên giới ranh giữa hai quốc gia, hai quốc gia đều có bố trí lực lượng an ninh quốc phòng. Nếu lực lượng an ninh của quốc gia này mạnh hơn lực lượng an ninh của quốc gia kia thì quốc gia này sẽ lấn chiếm diện tích của quốc gia kia. Sự tranh giành này xảy ra cho đến khi lực lượng an ninh của hai quốc gia đó cân bằng sức mạnh với nhau.
Chư Phật tử! Khi hai quốc gia đó tranh giành diện tích ở biên giới thì điều gì xảy ra nếu xung quanh của một quốc gia tham chiến này đều là những quốc gia có tánh tranh giành diện tích? Những quốc gia đó sẽ lợi dụng khi quốc gia này dồn lực lượng về biên giới bên kia thì liền tranh giành biên giới bên này. Vì sao tranh giành được? Vì khi quốc gia này dồn lực lượng để tham chiến tại biên giới bên kia thì lực lượng an ninh tại biên giới bên này sẽ yếu hơn lực lượng an ninh của các quốc gia đó. Do đó, mặc dù quốc gia này lấn chiếm diện tích tại biên giới bên kia nhưng các biên giới còn lại bị lấn chiếm. Cũng như vậy, khi một bản thể lấn chiếm thể tích của một bản thể khác thì cũng đồng thời bản thể đó bị các bản thể còn lại lấn chiếm ở các vị trí khác trên các bề mặt của nó.
Cho nên, này Chư Phật tử! Sự tranh giành đó không bao giờ dừng lại. Chúng luôn luôn xảy ra trên mỗi bản thể. Tất cả bản thể vật chất trong Vũ Trụ đều luôn luôn xảy sự tranh giành. Về vật chất, trong Vũ Trụ này không có nơi nào có được giây phút bình yên.

Chân Như Tuệ Không: 
Nam mô Phật! Thưa Thầy, cho con hỏi, cường độ không gian chỉ cho giá trị không gian tại một điểm. Còn mật độ không gian thì chỉ cho giá trị không gian tại một điểm và chỉ cho giá trị không gian phân bố trong một vùng thể tích đúng không ạ?

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Tuệ Không! Mật độ không gian chỉ cho cường độ không gian tại một vị trí, nó cũng phản ảnh một vùng không gian có cường độ tại các vị trí giống nhau, nó cũng phản ánh cường độ không gian bình quân của một vùng không gian.
Chư Phật Tử! Với phương tiện hiện nay thì "điểm" là nhỏ nhất, có đúng vậy không?

Chân Như Vô Ngại: 
Dạ vâng ạ. Con được hiểu "điểm" là phần không gian có kích thước các chiều rất nhỏ, có thể coi như gần bằng "không".

Chân Như Tuệ Quang: 
Dạ thưa thầy, nếu ta hiểu mật độ là độ đậm đặc hay độ dày đặc. Còn cường độ là độ mạnh, lực đẩy hay áp lực. Hiểu như thế có sai sót gì không?

Pháp Không Chân Như:
Chư Phật tử! Đúng như vậy, điểm là khái niệm nhỏ nhất hiện nay về kích thước. Ngôn ngữ hiện nay không có từ nào để diễn đạt cho đúng với thật tướng. Nên khi tôi dùng phương tiện ngôn ngữ thế gian mà diễn đạt thì chư Phật tử phải hiểu rằng nó không chính xác được. Hãy ghi nhận điều này. Đến đoạn này thì ngôn ngữ không còn chỗ để nói. Tuy vậy, tôi sẽ diễn giải nó theo một cách mà chư Phật tử có thể hiểu được nó.
Này chư Phật tử, sự thật giá trị vật chất mà tôi đã nói tại một vị trí hay là tại một điểm cũng không phải là giá trị vật chất tại đó. Giá trị vật chật chất tại một vị trí hay tại một điểm cũng chỉ là mật độ vật chất trung bình của điểm đó mà thôi. Vì sự thật rằng trong một điểm luôn có thể tích. Đi vào vùng thể tích của điểm đó thì có vô số điểm nhỏ hơn. Bất cứ điểm nào trong vô số điểm đó cũng đều có thể tích. Đi vào vùng thể tích của điểm nhỏ hơn đó thì có vô số điểm nhỏ hơn nữa. Ta cứ nói mãi như vậy không bao giờ dừng lại qua vô lượng kiếp thì cũng nói không đến tận cùng. Vậy thì, nếu ta nói giá trị tại một điểm là tồng giá trị của vô số điểm trong đó, rồi lại giá trị tại một điểm trong đó lại bằng tổng giá trị vô số điểm trong nó,... thì ngôn ngữ hiện tại chẳng thể tính đếm được. Các phép toán, phép đo hiện nay không có phép toán nào, phép đo nào tính được như vậy. Nên phải dừng lại ở đây rằng giá trị vật chất tại một vị trí hay một điểm là giá trị cơ sở. Vì vậy tôi mới nói rằng giá trị vật chất tại một điểm là giá trị vật chất tại một điểm. Cho nên giá trị vật chất tại một điểm cũng chỉ là mật độ vật chất trung bình của điểm đó mà thôi.
Như thế, Chân Như Tuệ Quang đã hỏi về mật độ và cường độ thì mật độ và cường độ là một mà thôi. Cường độ vật chất hay cường độ không gian tại một vị trí hay một điểm thì cũng là mật độ không gian trung bình của điểm đó vậy. Khi chư Phật tử đây đã nghe tôi nói điểm không phải là kích thước nhỏ nhất thì một vùng không gian lớn như Trái Đất cũng xem là một điểm vẫn được. Vậy thì cường độ không gian tại điểm này chẳng phải là mật độ không gian trung bình của Trái Đất hay sao.
Việc xác định cường độ không gian tại một điểm không có gì là khó khăn. Chư Phật tử cũng tự làm được. Tôi sẽ nói đến việc này ở cuối món này. Tuy nhiên, không có một phép đo nào cho ta giá trị đúng tuyệt đối.
Chư Phật tử! Như trước tôi đã nói đến tánh phân tranh thể tích riêng của bản thể vật chất. Trong đó nó có tánh giãn nở ra ở mọi hướng. Bản chất thật sự của tánh này chính là mỗi vị trí đều có tánh giãn nở ra ở mọi hướng. Chư Phật tử, mọi vị trí trong Vũ Trụ đều có tánh giãn nở ra ở mọi hướng. Chư Phật tử, mọi điểm trong Vũ Trụ đều có tánh giãn nở ra ở mọi hướng.
Con người có thể nhận diện được tánh chất này của nó nhờ vào sức giãn nở của nó, phép đo được đó chính là cường độ không gian tại điểm đó, cũng chính là sức giãn nở của nó. Giá trị đó, tôi gọi là giá trị vật chất tại điểm đó.
Phép đo này là gì chư Phật tử? Đó chính là phép đo lực tương tác. Đối với khoa học hiện nay thì có rất nhiều loại lực tương tác như lực hạt nhân mạnh, lực hạt nhân yếu, lực điện từ, lực hấp dẫn,.. Nhưng sự thật, nó chỉ là một mà thôi. Đó chính là sức giãn nở của không gian hay còn gọi là cường độ không gian. Cường độ không gian là nền tảng của mọi loại lực mà con người định nghĩa về chúng. Cường độ không gian là nguyên nhân và là kết quả của mọi tương tác và chuyển động. Cường độ không gian cũng chính là nguyên nhân và là kết quả của mọi sự vật hiện tượng trong Vũ Trụ.
Chư Phật tử! Tri kiến mà chư Phật tử đã từng nghe, đang nghe và sẽ nghe tôi nói, đều tự tôi tuyên bố. Khoa học chưa làm được và sẽ không bao giờ làm được nếu không nghe được những lời tôi nói. Cho nên tôi đã từng nói rằng, những gì tôi nói là thứ báu quý thứ hai, đứng sau thứ báu được gặp Phật ở đời.
Đến đây, chư Phật tử không nên hỏi, chỉ tập trung quán xét, thâm nhập, thấu hiểu. Chờ đến khi tôi nói tôi đã giảng xong món thứ năm thì hãy hỏi. Vì câu hỏi của chư Phật tử chắc chắn sẽ liên quan đến, không thể tách rời các bản tánh còn lại mà tôi chưa giảng đến. Vì rằng ba bản tánh của bản thể vật chất xảy ra đồng thời, không trước không sau.
Chư Phật tử! Bản tánh thứ hai của bản thể vật chất là tánh phân bố có tâm.
Trong một bản thể vật chất luôn tồn tại một điểm mà tại đó có cường độ chân không lớn nhất so với mọi điểm khác của bản thể đó. Điểm này được gọi là tâm của bản thể. Những điểm thuộc bản thể, càng xa tâm thì có cường độ chân không càng nhỏ. Chân không được phân bố như vậy trong bản thể vật chất là tánh phân bố có tâm.
Sự phân bố chân không trong bản thể vật chất có thể được hình dung tương tự như sự phân bố ánh sáng của một ngọn đèn. Tại tâm của ngọn đèn có cường độ ánh sáng mạnh nhất, càng xa tâm ngọn đèn thì cường độ ánh sáng càng giảm.
Chân không trong một bản thể phân bố theo một phương thức bất biến. Phương thức bất biến đó là gì? Chư Phật tử! Một là, mọi điểm thuộc một mặt cầu bất kỳ mà mặt cầu đó thuộc bản thể vật chất và tâm của mặt cầu đó chính là tâm của bản thể thì đều có cường độ chân không bằng nhau. Hai là, mọi mặt cầu khép kín thuộc bản thể và đồng tâm với tâm bản thể thì đều có giá trị chân không bằng nhau. Đối với những mặt cầu chỉ có một phần thuộc bản thể vật chất, nếu giả định tại mọi điểm thuộc mặt cầu đó đều có cường độ chân không bằng với cường độ chân không tại một điểm thuộc mặt cầu đó và thuộc bản thể vật chất thì giá trị chân không của mặt cầu đó cũng bằng với giá trị chân không của các mặt khác thuộc bản thể.
Chư Phật tử! Theo bản tánh phân bố có tâm như tôi đã tuyên bố, chư Phật tử có thể tự mình hoặc nhờ người đã học về toán học tích phân thì có thể thiết lập được công thức xác định cường độ chân không tại một điểm thuộc bản thể và cách tâm bản thể một khoảng cách r là I(r) = m/(4Pi.R.r^2). Trong đó, Rg = căn bậc ba của (3V/4π), m và V lần lượt là khối lượng và thể tích của bản thể.
Bản tánh thứ ba của bản thể vật chất là tánh cân bằng. 
Thế nào là tánh cân bằng? Chư Phật tử! Mỗi hình dạng luôn có một trọng tâm. Bản thể vật chất cũng có trọng tâm vì bản thể vật chất có hình dạng bỡi các bề mặt của nó. Tâm của bản thể luôn có khuynh hướng di chuyển về trọng tâm của bản thể. Tánh luôn có khuynh hướng di chuyển tâm về trọng tâm là tánh cân bằng của bản thể.
Chư Phật tử! Ba bản tánh này của bản thể vật chất là ba tánh chất hoàn hảo, xảy ra đồng thời. Chúng luôn hướng đến sự cân bằng, ổn định. Nhưng cũng vì chúng luôn hướng đến sự cân bằng, ổn định như vậy nên sự cân bằng và ổn định không bao giờ có được trong bất cứ khoảng thời gian nào cho dù khoảng thời gian đó vô cùng ngắn. Vì sao vậy? Vì bản thể vật chất có tánh giãn nở nên toàn thể Vũ Trụ luôn giãn nở. Vì Vũ Trụ luôn giãn nở nên cường độ không gian của bản thể chủ của Vũ Trụ tại mọi điểm của nó cũng luôn thay đổi. Cường độ tại mọi điểm của bản thể chủ Vũ Trụ luôn thay đổi bởi vì thể tích của nó luôn tăng, lại do tánh phân bố có tâm, tánh cân bằng, nên nội tại của chính nó luôn phân bố lại cường độ chân không tại mọi điểm. Vì cường độ chân không tại mọi điểm của bản thể chủ Vũ Trụ luôn thay đổi nên mọi bản thể có bề mặt ngoài là bề mặt trong của bản thể chủ Vũ Trụ cũng thay đổi cường độ tại mọi điểm trong nó. Vì sao vậy? Vì tại bề mặt tiếp xúc với bản thể chủ Vũ Trụ, cường độ các điểm thuộc bản thể chủ Vũ Trụ thay đổi, do tánh phân tranh nên cường độ tại các điểm thuộc bề mặt ngoài của bản thể này cũng thay đổi. Do tánh phân bố có tâm và tánh cân bằng nên nội tại của bản thể sẽ phân bố lại cường độ. Cho nên cường độ tại mọi điểm của bản thể này luôn thay đổi. Và cứ như thế, sự thay đổi cường độ luôn lan truyền từ vị trí này sang vị trí khác, từ bản thể này sang bản thể khác. Chính vì cường độ tại mọi điểm trong Vũ Trụ luôn thay đổi như vậy nên hình dạng, thể tích, vị trí tâm, vị trí trọng tâm của các bản thể luôn thay đổi không ngừng nghỉ bất cứ trong một khoảng thời gian nào. Sự thay đổi này là tương tục, không có khoảng thời gian gián đoạn.
Vì thế, chư Phật tử, mọi pháp hữu vi đều vô thường, kết hợp rồi tan rã, chỉ có pháp vô vi là thường hằng. Thường hằng được nói đến ở đây là không tan rã. Pháp vô vi là gì chư Phật tử? Đó chính là Vũ Trụ, là chân như. Sự kết hợp này không bao giờ tan rã vì chẳng có chỗ để tan rã.
Tôi đã giảng xong món thứ năm. Chư Phật tử có chỗ nào cần hỏi thì hãy hỏi.
_____________________

PHỤ LỤC: VẤN ĐÁP

Chân Như Bồ Đề: 
Vậy con xin phép con hỏi cho ạ!
Vì sao chất liệu của hạt vật chất là không gian? Một trường tương tục như thế, không có gi khác. Nhưng con thấy khác, đủ  thứ khác nhau hết. Tại sao vậy ạ?

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Bồ Đề! Món thứ năm tôi đã giảng. Cô có thể dùng nó theo cấp độ hạt sơ cấp (hạt cội gốc) và ứng dụng khoa học vật lý và hóa học hiện nay theo cấp độ hạt thứ cấp (hạt có cấu trúc, vật chất có cấu trúc) để giải thích cho câu hỏi mà cô đã hỏi là "Vì sao chất liệu của hạt vật chất là chân không, một trường tương tục như thế, không có gì khác, nhưng con thấy đủ thứ khác nhau?" hay là tôi phải giải thích?

Quảng Pháp: 
Nam mô Phật. Sau khi nghe thầy giảng về món thứ 5, thầy cho con hỏi: Bản thể chủ của Vũ trụ luôn luôn giãn nở, vậy thì tất cả các bản thể trong Vũ trụ cũng đều đang giãn nở, kể cả các bản thể tạo nên từng thân thể của mọi chúng sinh?

Pháp Không Chân Như: 
Quảng Pháp! Phần lớn đều đang giãn nở. Tuỳ theo nơi định xứ và sự tương quan mật độ xung quanh mà có vùng giãn nhanh có vùng giãn chậm, có bản thể giãn nhanh có bản thể giãn chậm, có vùng đồng bộ có vùng không đồng bộ. Nên có trường hợp con người nhận thấy được, có trường hợp không nhận thấy được. Ví như các thiên hà đang dịch chuyển cách xa nhau, con người thấy được. Vì như trên mặt đất, sự giãn nở đồng bộ nên chẳng có gì để làm mốc đo lường vì cả cái thước cũng đồng lớn cùng mọi vật. Một quả mìn nổ ra thì thấy rõ sự giãn nỡ rất nhanh. Một nồi nước đun sôi cũng nhận biết được sự giãn nở của nước... Nhưng cũng có nơi bị co lại vì sức giãn nở của xung quanh lớn hơn.

Quảng Pháp: 
Con bạch Thầy, ở điều kiện bình thường (trên mặt đất) thì hầu hết mọi vi trần (trừ mấy cái vi trần tạo nên các tế bào ung thư) tạo nên thân thể con người đều đang giãn nở?

Pháp Không Chân Như:
Nói vi trần trên mặt đất đang giãn nở thì biên kiến. Vì ba bản tánh của bản thể vật chất mà trong Vũ Trụ, sự thay đổi vô cùng phức tạp, đa dạng và tương tục. Khi ta nói nó đang giãn nỡ, ta nói chưa xong thì nó đang co lại. Khi ta nói nó đang co lại, ta nói chưa xong thì nó đang giãn ra. Vậy nói nó đang giãn ra hay nói nó đang co lại chẳng phải đều sai hay sao. Vì sự biến dạng xảy ra một cách tương tục về thời gian.
Nhưng nói mọi vi trần luôn luôn biến dạng thì không bao giờ sai.

Quảng Pháp: 
Thầy cho con hỏi, có phải nhiệt độ tăng là 1 nhân duyên để 1 vi trần giãn nở và di chuyển (thay đổi vị trí trú xứ) không ạ? Và chính vì vậy nên vì có ánh nắng Mặt trời chiếu đến Trái đất gây nên sự chênh lệch nhiệt độ giữa nửa bán cầu đang là ban ngày và nửa bán cầu đang là ban đêm, nên gió được tạo thành?

Pháp Không Chân Như: 
Quảng Pháp! Nhiệt độ cũng do cường độ chân không thay đổi. Do cường độ chân không thay đổi nên làm cho các bản thể biến dạng và chuyển động. Vì các bản thể biến dạng và chuyển động nên các nguyên tử, phân tử biến dạng và chuyển động. Sự biến dạng và chuyển động của các nguyên tử, phân tử làm cho ta nhận được một sự thay đổi, gọi là năng lượng nhiệt, hay còn gọi là nhiệt độ.
Ánh sáng chính là sự lan truyền sự thay đổi cường độ chân không từ vị trí này sang vị trí khác chứ không phải ánh sáng được cấu tạo từ các hạt vật chất photon. Sự thật không có hạt ánh sáng. Đây là một nhầm lẫn của khoa học.
Khi ánh sáng Mặt trời truyền đến Trái đất, tức là lan truyền sự thay đổi cường độ chân không đến Trái đất. Do đó, ở Trái đất, cường độ chân không biến động, sanh ra cảm nhận cái gọi là nhiệt độ.
Cường độ chân không thay đổi sẽ gây ra thay đổi mật độ chân không, tức gây ra chênh lệch mật độ chân không. Vì lẽ đó làm cho các hạt không khí chuyển động đến nơi mà ở đó mật độ cân bằng với các hạt tạo thành không khí. Sự chuyển động đó gọi là gió.
Quảng Pháp! Sự thật chân đế về áp suất khí quyển chính là cường độ chân không chứ không đơn thuần nói là do sức nặng/mật độ của không khí. Đây là nhầm lẫn của khoa học. Nếu nói áp suất khí quyển do sức nặng/mật độ của không khí thì vùng chân không trong một hộp kín, không chịu sự tác động của không khí, thì lẽ ra áp suất bên trong hộp này phải bằng nhau ở mọi độ cao khác nhau trên Trái đất. Sự thật không có sự bằng nhau về áp suất chân không ở các độ cao khác nhau trên Trái đất. Kiểm tra việc này rất đơn giản.
Chư Phật tử! Vì ba bản tánh của bản thể nên đã xảy ra sự thật tục đế như sau:
Một là, bản thể vật chất có bề mặt mà không thể xác định được nó đang có hình dạng gì, có thể tích mà không thể xác định là bao nhiêu, không thể xác định được vị trí các điểm thuộc bề mặt đang nằm ở đâu? Nghĩa là bản thể vật chất có bề mặt mà không thể xác định, có hình dạng mà không thể xác định, có thể tích mà không thể xác định vì nó luôn thay đổi tương tục.
Hai là, bản thể vật chất có tâm mà không thể xác định tâm đang nằm ở đâu vì nó luôn thay đổi tương tục.
Vì không thể xác định bề mặt, hình dạng, thể tích và vị trí tâm, tức vị trí định xứ nên ta không thể kết luận được nó có bề mặt hay không có bề mặt, có hình dạng hay không có hình dạng, có thể tích hay không có thể tích, có vị trí hay không có vị trí.
Chư Phật tử! Bản thể vật chất có bề mặt, có hình dạng, có thể tích, có vị trí mà không thể kết luận bản thể vật chất có bề mặt, có hình dạng, có thể tích, có vị trí. Nghĩa là đối với tục đế, bản thể vật chất không thể hiện sự tồn tại của chính nó. Vì thế ta nói nó không có tự tánh. Hay còn nói tánh không thể hiện sự tồn tại của chính nó là tánh không.
Mọi bản thể vật chất đều có trường nội tại là chân không, không có thứ chi khác cấu tạo ra nó nên nói thể tánh của nó là thể không. Tánh không và thể không của mọi sự vật hiện tượng được gọi chung là KHÔNG. Đây là trí Bát nhã.

Quảng Pháp: 
Nam mô Phật. Nam mô Thầy. Con hiểu và hoàn toàn đồng ý rằng: Áp suất tại bất kỳ điểm nào trong Vũ trụ (bao gồm cả mọi điểm trong vi trần chủ Trái đất) đo được là do sức giãn nở của các bề mặt vi trần tiếp xúc với dụng cụ đo tại điểm đó. Cái gọi là khối lượng theo định nghĩa của khoa học là không đúng.
Con còn có thắc mắc là: Khoa học có thử nghiệm và chế tạo ra phòng chân không. Họ đưa con người và đồ vật vào đó thì con người và đồ vật ở trái thái lơ lửng (mất trọng lượng). Vậy Thầy có thể giải thích cho con về hiện tượng đó?

Pháp Không Chân Như:
Quảng Pháp phải chỉnh lại ý này thì mới đúng cho mọi trường hợp: ... do sức giãn nở không gian của các "vị trí" tiếp xúc với "bề mặt vi trần" của dụng cụ đo...
Phòng chân không có cấu tạo như thế nào thì tôi không biết nên không giải thích. Nhưng tôi khẳng định phòng chân không này có cơ chế thay đổi hướng tương tác liên tục để tạo ra sự cân bằng lực tương tác. Ví như ở trong thang máy và thang máy rơi tự do vậy. Mấy cơ chế này là khoa học bình thường, nhiều người hiểu cơ chế thì giải thich được.

Quảng Pháp: 
Nam mô Phật. Nam mô Thầy. Thầy cho con hỏi về nhiệt độ: Theo Thầy giảng ở trên thì bản chất của nhiệt độ chỉ là sự lan truyền sự thay đổi mật độ chân không của các vi trần? Con có nghe nói là người ta có thể cho nước vào túi ly lông và đốt lửa ở dưới đun nóng hoặc sôi nước được, mà túi ly lông không bị nóng chảy ra?

Phap Khong Chan Nhu: 
Ông bảo tôi chạy theo từng hiện tượng để giải thích cho ông thì cho đến bao giờ kết thúc được vậy Quảng Pháp. Nước sôi có thể đựng trong bọc. Ông truyền nhiệt từ từ vào bọc nước thì nước cũng có thể nóng lên mà không làm hư bọc. Chứ ông bật lửa đốt thì bọc nào còn.
Ở trên tôi đã giảng về bản chất của nhiệt, sự hình thành của nhiệt. 
Nhiệt là một dạng năng lượng mà ta dùng cảm thọ để biết. Nhưng cũng phải nên nhớ, mọi dạng năng lượng đều có cái gốc là cường độ chân không. 
Cảm thọ này do chuyển động và biến dạng của nguyên tử, phân tử tiếp xúc với tế bào của ta, lan truyền đến não và được thức phân loại. Sự chuyển động và biến dạng ở biên độ nhỏ và nhanh thì ta cảm nhận nó nóng. Cảm nhận này là do thức được vân tập và nó định nghĩa như vậy. Nên khi có cảm thọ tiếp xúc với chuyển động và biến dạng của các nguyên tử, phân tử ở biên độ nhỏ và nhanh thì thức cho ta biết là nóng.
Chuyển động và biến dạng của nguyên tử, phân tử ở biên độ nhỏ và nhanh thì từ đâu mà có? Tức là nhiệt từ đâu mà có?
Tại một vị trí nào đó, cường độ chân không thay đổi, vì ba tánh chất của bản thể vật chất nên mọi vị trí xung quanh sẽ thay đổi cường độ chân không. Mọi vị trí xung quanh của mọi vị trí xung quanh kia cũng bị thay đổi cường độ chân không. Cứ như thế. Sự thay đổi cường độ chân không từ vị trí này làm cho kế cận nó cũng thay đổi, đến tận mọi điểm trong Vũ Trụ gọi là sự lan truyền sự thay đổi cường độ chân không.
Vì cường độ chân không thay đổi thì cũng tức là bản thể vật chất cùng chuyển động và biến dạng đồng lúc với sự thay đổi cường độ chân không. 
Tùy theo mức độ về độ chênh lệch sự thay đổi cường độ mà biến dạng và chuyển động của bản thể vật chất cũng có muôn hình vạn trạng. Trong đó, nếu biên độ chuyển động và biến dạng phù hợp với thức mà thức cho là nóng thì là nóng vậy. Nên gọi là nhiệt. Có những chuyển động và biến dạng mà thức không cho là nóng thì là không nóng vậy. Nhưng đó cũng là một dạng năng lượng mà thức định nghĩa theo trạng thái khác chứ không quyết định cho ta biết là nóng hay lạnh.
Tại sao có ánh sáng ta cảm nhận nóng, có ánh sáng ta không có cảm nhận nóng?
Chư Phật tử! Ánh sáng là sự lan truyền sự thay đổi cường độ chân không. Sự thay đổi cường độ chân không cũng đồng lúc sự biến dạng và chuyển động của bản thể vật chất. Do cường độ chân không được lan truyền, tức ánh sáng, nói đúng hơn là bức xạ điện từ, có vô số biên độ thay đổi cường độ chân không khác nhau. Biên độ ở đây chính là độ lệch cường độ chân không tại một điểm trước và sau thay đổi và tốc độ tăng giảm đó. Nếu biên độ thay đổi cường độ chân không ở mức mà sự biến dạng và chuyển động của bản thể vật chất phù hợp với định nghĩa của thức cho là nóng thì ta cảm nhận rằng nó nóng. Nếu biên độ thay đổi cường độ chân không ở mức mà sự biến dạng và chuyển động của bản thể vật chất không nằm trong giới hạn mà thức cho là nóng thì ta cảm nhận nó không nóng.
Cũng tương tự như vậy, về sự thấy bằng ánh sáng của ta. Nếu biên độ thay đổi cường độ chân không ở mức mà cấu trúc của mắt nhận lấy và lan truyền đến não và được thức phân loại là sáng thấy thì ta thấy sáng. Còn nếu biên độ thay đổi cường độ chân không không nằm trong giới hạn nhận được của mắt và không nằm trong giới hạn mà thức cho là sáng thấy thì ta cảm nhận không thấy sáng.
Biên độ thay đổi cường độ chân không có giá trị lớn nhỏ khác nhau. Mắt và thức của ta phân định gọi là ánh sáng thì chỉ nằm trong một vùng biên độ mà thôi. Vùng đó được khoa học hiện nay gọi là vùng ánh sáng nhìn thấy hay ánh sáng khả biến, ánh sáng cầu vồng. Ngoài vùng đó, ta không thấy. Ví như tia tử ngoại, tia X, tia gamma thì ta không nhìn thấy bằng mắt thường.
Không có ai hỏi gì thêm hay sao?

Chân Như Vô Ngại: . 
Xin Sư phụ giảng lại cho con chỗ này ạ. 
Trong đoạn sau thuộc món 5: "Chân không trong một bản thể phân bố theo một phương thức bất biến. Phương thức bất biến đó là gì? Chư Phật tử! Một là, mọi điểm thuộc một mặt cầu bất kỳ mà mặt cầu đó thuộc bản thể vật chất và tâm của mặt cầu đó chính là tâm của bản thể thì đều có cường độ chân không bằng nhau. Hai là, mọi mặt cầu khép kín thuộc bản thể và đồng tâm với tâm bản thể thì đều có giá trị chân không bằng nhau. Đối với những mặt cầu chỉ có một phần thuộc bản thể vật chất, nếu giả định tại mọi điểm thuộc mặt cầu đó đều có cường độ chân không bằng với cường độ chân không tại một điểm thuộc mặt cầu đó và thuộc bản thể vật chất thì giá trị chân không của mặt cầu đó cũng bằng với giá trị chân không của các mặt khác thuộc bản thể". 
Con thắc mắc về đoạn trường hợp thứ 3: "Đối với những mặt cầu chỉ có một phần thuộc bản thể vật chất,.. giá trị chân không của mặt cầu đó cũng bằng với giá trị chân không của các mặt khác thuộc bản thể" ở chỗ: "mặt cầu đó" và "các mặt khác thuộc bản thể" có cần phải có điều kiện là tâm của chúng trùng với tâm của bản thể không ạ?
Con xin lấy hình minh họa dưới đây để ví dụ và hiểu như sau có đúng không?:
- Mặt cầu A tạo bởi tập hợp các điểm Aj. Mặt cầu A có tâm trùng với tâm bản thể vật chất. Cho nên mọi điểm Aj trên mặt cầu A đều có cường độ chân không bằng nhau.
- Tương tự vậy, mọi điểm Bj trên mặt cầu B đều có cường độ chân không bằng nhau.
- Mặt cầu A và mặt cầu B cùng thuộc bản thể vật chất và có tâm trùng với tâm bản thể vật chất. Cho nên, giá trị chân không của mặt cầu A = giá trị chân không của mặt cầu B = Tổng cường độ chân không của tất cả các điểm Aj = Tổng cường độ chân không của các điểm Bj.
- Mặt cầu C có tập hợp các điểm Cj mà cường độ chân không tại các điểm này bằng cường độ chân không tại D (thuộc mặt cầu C và thuộc bản thể vật chất) (*). Khi đó cường độ chân không của mặt cầu C = cường độ chân không của các mặt cầu khác thuộc bản thể vật chất (ví dụ như mặt cầu A, mặt cầu B).
Câu (*) có đồng nghĩa với tât cả các điểm trên mặt cầu C có cường độ chân không bằng nhau không thưa Sư phụ?
Xin Sư phụ chỉ cho con được hiểu ạ.

Phap Khong Chan Nhu: 
Hiểu và trình bày rất tốt, Chân Như Vô Ngại.
Nhưng ông cần nhớ là tất cả các mặt cầu phải đồng tâm và trùng với tâm của bản thể thì mới đúng theo phương thức phân bố chân không của bản thể. Vì vậy, theo hình ở trên thì phải sửa mặt cầu C đồng tâm với mặt cầu A, B và trùng với tâm bản thể.
Ông ghi: khi đó cường độ chân không của mặt cầu C = cường độ chân không của các mặt cầu khác thuộc bản thể vật chất, là không đúng. Mà phải ghi là: khi đó giá trị chân không của mặt cầu C = giá trị chân không của các mặt cầu khác thuộc bản thể vật chất.
Chân Như Vô Ngại hoan hỷ sửa lại như tôi nói và vẽ màu khác cho đoạn cung của hình C thuộc bản thể, ghi chú là: "phần mặt cầu thuộc bản thể vật chất đang xét". Rồi đăng lên lại để cho chư Phật tử tham khảo.

Chân Như Vô Ngại: 
Dạ. Con cám ơn Sư phụ. Con đã hiểu chỗ này rồi. Con xin đăng lại ảnh sửa ạ. Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.

Pháp Không Chân Như: 
Tấm hình mà Chân Như Vô Ngại vừa đăng rất thích hợp để hỗ trợ hiểu về món thứ năm. Nam mô Phật.

Quảng Pháp: 
Con bạch thầy, theo như con hiểu sau khi nghe Thầy giảng về Bản thể vật chất, thì mọi điểm trong Vũ trụ đều có cường độ chân không luôn thay đổi. Hiểu như vậy có đúng không, thưa Thầy?

Pháp Không Chân Như: 
Đúng vậy Quảng pháp. 

Quảng Pháp: 
Thầy cho con hỏi, vậy tất cả những nhận thức của ta với thế giới, đều được truyền đến ngũ uẩn của ta qua các vi trần tiếp xúc trực tiếp với ngũ uẩn của ta. Tức là một vi trần trung gian, vừa tạo 1 rung động để truyền ánh sáng, sau đó lại tiếp nhận 1 rung động để truyền âm thanh, sau đó lại tiếp nhận 1 rung động để truyền nhiệt độ... làm sao để những rung động này không bị lẫn lộn nhau? 

Pháp Không Chân Như: 
Quảng Pháp, sao ông lại nói là một vi trần trung gian?

Quảng Pháp: 
Bạch thầy, Ý con là ví như ta đang đứng trước 1 đống lửa. Ta sẽ nhận được 3 thông tin từ đống lửa truyền đến ngũ uẩn của ta: Ánh sáng, âm thanh và nhiệt độ. Giả dụ vi trần trung gian mà con muốn nói, nó nằm ở khoảng giữa đống lửa và thân ngũ uẩn của ta.
Vì nó tiếp nhận sự rung động rồi là truyền sự rung động sang vi trần cạnh bên, cứ như vậy qua hàng tỷ vi trần rồi mới truyền đến ngũ uẩn của ta, nên con nói nó là vì trần trung gian. 

Pháp Không Chân Như: 
Quảng Pháp! Ánh sáng ta thấy, âm thanh ta nghe, nhiệt ta cảm xúc được bằng ba phương tiện khác nhau: mắt nhìn thấy sáng, tai nghe âm thanh, da thịt cảm xúc nhiệt. Ba giác quan làm ba nhiệm vụ khác nhau. Mỗi giác quan chỉ nhận được một loại chủng loại thông tin. Mắt nhận tiếp thông tin thấy. Tai tiếp nhận thông tin nghe. Da thịt tiếp nhận thông tin xúc.
Khi cường độ chân không được lan truyền đến, mắt kết hợp thức của mắt, tai kết hợp với thức của tai, da thịt kết hợp với thức của xúc lại phân ra thành ba chủng loại thông tin là thấy, nghe, xúc.
Cũng là cường độ đó, mắt kết hợp thức của mắt cho rằng nó sáng tối, tai kết hợp với thức của tai cho rằng nó là âm thanh, da thịt kết hợp với thức của xúc cho rằng nó là nóng lạnh.
Ví như một thỏi vàng. Có kẻ thì chỉ nói thỏi đó là vàng. Có kẻ chỉ nói thỏi đó có màu vàng. Có kẻ chỉ nói thỏi đó cứng. Có kẻ chỉ nói thỏi đó nặng. Có kẻ chỉ nói thỏi đó lạnh.

Quảng Pháp: 
Bạch thầy, con hiểu điều thầy vừa giảng. Trong thực tế cuộc sống, cùng 1 lúc ngũ uẩn của ta tiếp nhận rất nhiều thông tin, mà mọi thông tin đều được truyền qua các vi trần trung gian, thì con chưa hiểu được sự rung động tại 1 thời điểm của 1 trong những vi trần trung gian đó thế nào, để thông tin được truyền đi đến ngũ uẩn của ta không sai lệch?
Ví như cùng 1 lúc ta có thể nghe được 3 loại âm thanh khác nhau chẳng hạn. Nếu 3 loại âm thanh đó cùng truyền qua 1 vi trần trung gian thì tại 1 thời điểm, vi trần đó nó rung động (thay đổi cường độ chân không) kiểu gì, mà không triệt tiêu nhau để tai ta vẫn phân biệt được cả 3 loại âm thanh? Nam mô Phật.

Pháp Không Chân Như:
Quảng Pháp! Cường độ chân không và bản thể vật chất chứa rất nhiều thông tin.
Đối với cường độ thì lan truyền nhanh là thông tin, lan truyền chậm là thông tin, hướng lan truyền thẳng là thông tin, đổi hướng làn truyền là thông tin, cường độ nhỏ là thông tin, cường độ lớn là thông tin, tăng nhanh là thông tin, tăng chậm là thông tin, giảm nhanh là thông tin, giảm chậm là thông tin, tăng ít là thông tin, tăng nhiều là thông tin, giảm ít là thông tin, giảm nhiều là thông tin,..., tổ hợp hai thông tin khác nhau là thông tin, tổ hợp ba thông tin khác nhau là thông tin,... Có vô số thông tin như vậy.
Đối với bản thể vật chất thì mỗi một hình dạng là thông tin, mỗi khối lượng là thông tin, cường độ của mỗi điểm trên bề mặt là thông tin, mỗi mật độ chân không trung bình của bản thể là thông tin, tốc độ chuyển động là thông tin, quỹ đạo chuyển động là thông tin, tốc độ biến dạng là thông tin,..., tổ hợp hai thông tin khác nhau là thông tin, tổ hợp ba thông tin khác nhau là thông tin,... Có vố số thông tin như vậy.
Cho nên mỗi giác quan chỉ nhận diện một hoặc một số, hoặc nhiều thông tin trong vô số thông tin và vân tập cho nó các định nghĩa khác nhau tùy theo thông tin mà nó nhận được.
Quảng Pháp! Ông dựa vào đâu mà nói là sai lệch hay không sai lệch. Cái mà ông nhận được là kết quả chứ không phải cái mà ông chưa nhận được, đang đưa đến là kết quả. Cái ông chưa nhận được, đang đưa đến thì làm sao ông biết nó là gì mà ông nói cái ông chưa nhận được, đang đưa đến và cái ông nhận được có sai lệch hay không sai lệch. Thức của ông quyết định cho ông biết kết quả chứ không phải cảnh quyết định cho ông biết kết quả.
Quảng Pháp! Ông nên biết, đối tượng mà ông thấy biết, giữa cảnh trần và cái biết của thức có khoảng cách quãng đường và thời gian. Trên quảng đường và thời gian đó, thứ được truyền đi là sự lan truyền cường độ chứ không phải chính cảnh trần ban đầu. Sự lan truyền cường độ không đảm bảo rằng không thay đổi trên quảng đường và thời gian lan truyền. Vậy nên, cái biết của thức về cảnh trần là cái biết ngay tại thức chứ không phải cái biết về cảnh trần ban đầu hay cách đó một quảng đường, một thời gian, cho dù vô cùng ngắn. Và cái biết đó là cái biết về quá khứ của cảnh trần được biết đến.
Chư Phật tử! Hỏi điều mình không rõ hoặc nghi ngờ thì nên hỏi. Nhưng hỏi khi nào, hỏi như thế nào? Hãy làm theo trình tự như sau:
1. Trước hết, phải cố gắng quán chiếu để tự hiểu lời giảng.
2. Thứ hai, hỏi trực tiếp đoạn không hiểu để hiểu cho rõ. Tức là đoạn nào không hiểu thì trích nguyên văn đoạn đó để hỏi. Ờ bước này, không nên hỏi những thứ bên ngoài, dù nó có liên quan. Ở bước này cũng không hỏi những điều mình nghi ngờ vì chưa hiểu tất sanh nghi.
3. Thứ ba. Sau khi hiểu rõ lời giảng. Dùng nó để quán chiếu, thấu hiểu những thứ bên ngoài mà mình đang thắc mắc, nghi ngờ để dứt nghi và hiểu thấu. Bước này, chư Phật tử cũng phải cố gắng tự mình giải quyết.
Sau khi đã quán chiếu kỹ những điều đó mà không thể tự giải quyết thì hãy hỏi. Hỏi ở bước này chủ yếu là để dứt nghi và phải là những câu hỏi đại diện chứ không nên chạy theo hiện tượng.
4. Thứ tư. Khi đã dứt nghi rồi, an trụ nơi trí đó để tự giải quyết các vấn đề. Chỉ khi nào vấn đề cần giải quyết là cần thiết đối với tu hành giác ngộ và giải thoát mà mình đã cố gắng tuệ quán nhưng không giải quyết được thì phải hỏi.
Làm như vậy mới được lợi ích.

Chân Như Bồ Đề: 
Nam Mô Phật!
Bạch Sư Phụ !
Con đã cố gắng nhưng vẫn chưa thể hiểu rõ về câu hỏi: "Vì sao chất liệu của hạt vật chất là chân không, một trường tương tục như thế, không có gì khác, nhưng con thấy đủ thứ khác nhau?"
Mong Sư Phụ hoan hỷ giải thích giúp con với ạ!
Con cảm ơn Sư Phụ! Nam Mô Phật!

Pháp Không Chân Như: 
Chư Phật tử! Chân không không như chư Phật tử đã từng biết đến. Thế nào là từng biết đến? Trong một bình kín đang ở trên mặt đất và nó chứa không khí. Rút hết không khí bên trong bình kín thì thứ còn lại trong bình kín là chân không. Điều này cho chư Phật tử một cái biết bị chấp trước. Thế nào là một cái biết bị chấp trước. Theo kết quả trên sẽ thiết lập cho chư Phật tử cái biết thế này: Chân không vừa trong suốt, ta có thể đi xuyên qua, mọi thứ có thể xuyên qua mà không có cảm giác cản trở nào, không có lực cản trở nào. Nghĩa là nó chẳng có gì để cản trở như sự hình dung về hư không mà chư Phật tử đã từng nghĩ. Tôi nói, cái biết như vậy về chân không, về hư không là cái biết bị chấp trước.
Chính vì chư Phật tử chấp trước như vậy về cái biết của mình nên chư Phật tử lại sanh ý nghĩ rằng: Chân không trong suốt như thế, chẳng có gì để cản trở như thế thì tại sao lại thấy biết nhiều sự vật hiện tượng khác nhau được.
Chư Phật tử! Sự thật chưa phải vậy. Môi trường chân không mà chư Phật tử đã từng biết đến là môi trường nằm ở vùng có mật độ chân không thấp. Ở trên mặt đất có mật độ chân không thấp. Vì mật độ chân không thấp nên ta đi xuyên trong nó, ta cảm nhận chỉ có không khi xúc chạm đến ta, ngoài ra chẳng có gì cản trở ta, và ta cũng chẳng thấy gí khác ngoài không khí trong suốt kia. Nhưng ở vùng có mật độ chân không cao thì nó sẽ cứng hơn, nó sẽ cản trở và ta sẽ có cảm nhận nó cản trở. Vì sao vậy? Theo các bản tánh của bản thể vật chất thì nơi bề mặt của bản thể này có cường độ cao hơn bề mặt mà nó tiếp xúc với bản thể kia thì bản thể này sẽ chen lấn không gian của bản thể kia cho đến khi nào cân bằng cường độ tại mặt tiếp xúc. Khi đó ta nói hoặc cảm nhận, bản thể này không bị bản thể kia cản trở, hoặc bản thể này cứng hơn bản thể kia. Ngược lại, nơi bề mặt của bản thể này có cường độ thấp hơn bề mặt mà nó tiếp xúc với bản thể kia thì bản thể này chẳng thể chen lấn không gian của bản thể kia. Khi đó ta nói hoặc cảm nhận, bản thể này bị bản thể kia cản trở, hoặc bản thể này mềm hơn bản thể kia. Nên nhớ, tiếp xúc ở đây có hai trường hợp: tiếp xúc ngoài và tiếp xúc trong. Tiếp xúc ngoài là bản thể này nằm bên ngoài bề mặt ngoài của bản thể kia. Tiếp xúc trong là bản thể này nằm bên trong bề mặt ngoài của bản thể kia.
Như vậy, chư Phật tử, cường độ chân không khác nhau sẽ cho ta nhận biết khác nhau nên ta thấy có nhiều sự vật hiện tượng khác nhau.
Chư Phật tử! Các bản thể khác nhau thì ta thấy có sự khác khau. Các bản thể giống nhau có hình dạng khác nhau thì ta thấy khác nhau. Các bản thể giống nhau có mật độ khác nhau thì ta thấy khác nhau. Do ba bản tánh của bản thể vật chất nên các bản thể vật chất kết hợp với nhau với vô số tổ hợp khác nhau hoặc giống nhau, trật tự của các bản thể trong các tổ hợp thì khác nhau hoặc giống nhau, vị trí của các bản thể trong các tổ hợp thì khác nhau hoặc giống nhau, số lượng bản thể trong các tổ hợp thì khác nhau hoặc giống nhau, tổ hợp con, tổ hợp mẹ,... Vậy nên, ta thấy có vô số sự vật hiện tượng gống nhau và khác nhau.
Nam mô Phật. Sự hiểu của chư vị như thế nào rồi. Chân Như Bồ Đề, Chân Như Vô Ngại, Chân Như Tuệ Không, Chân Như Tuệ Quang, Ý Nguyện Như, Quảng Pháp, Từ Kính, Lệ Hằng, Nhat Phu Ho.

Quảng Pháp: 
Nam mô Phật. Bạch Thầy, con cũng đã hiểu được cơ bản khoảng 80% qua các bài giảng của Thầy về bản thể vật chất. Nam mô Bồ Tát. Nam mô Sư phụ.

Từ Kính: 
Nam mô Phật. Hôm nay con mới đọc xong năm món của Phật mà Sư phụ đã giảng. Con cũng không thể kết luận được sự hiểu của con là bao nhiêu phần trăm, có hiểu hết được lời Sư phụ giảng hay không. Bởi con sợ có khi tưởng hiểu mà lại không phải, con sợ con hiểu sai ý của Sư phụ. Vậy con xin trình bày sự hiểu của con dưới đây. Sư phụ xem giúp con được không ạ?
Bạch sư phụ. Sự hiểu của con về Phật tánh là như thế này ạ: 
Phật tánh: 
Phật tánh là cái gốc rốt ráo thường hằng, bất biến của mỗi chúng sinh. Mỗi chúng sinh có một phật tánh. Bao nhiêu chúng sinh có bấy nhiêu phật tánh. Vậy có vô số phật tánh. 
Chất liệu của Phật tánh là Quang Minh. Chất liệu Phật tánh là trường tương tục, không gián đoạn. 
Chất liệu của mỗi Phật tánh trùm khắp vũ trụ. Nghĩa là chất liệu của mỗi Phật tánh ở khắp tất cả chỗ trong vũ trụ. Không có một vị trí nào trong vũ trụ mà tại vị trí đó không có chất liệu của tất cả Phật tánh. Nghĩa là tại bất kỳ vị trí nào trong Vũ trụ đều có đầy đủ chất liệu của tất cả Phật tánh. Nhưng chất liệu của Phật tánh nào là của Phật tánh đó. Mỗi Phật tánh đồng nhất với nhau và đồng nhất với Vũ trụ nhưng không bị sáp nhập với nhau.
Phật tánh có thuộc tánh không phân tranh không gian riêng, không sở hữu riêng không gian nên nó luôn hòa đồng trong mọi tồn tại của Vũ trụ. Vì vậy Phật tánh không phải là nguyên nhân của mọi sự vật hiện tượng trong Vũ trụ.

Pháp Không Chân Như: 
Đúng vậy Từ Kính. Nhưng có một số từ sau lưu ý để tránh hiểu nhầm.
Từ Quang Minh chỉ là cái tên đặt cho chất liệu Phật tánh. Đặt để gọi vậy thôi. Đối với những gì con người đã biết thì không có thứ nào được biết đến là Quang Minh này.
Tại bất kỳ vị trí nào trong Vũ Trụ đều có (đầy đủ) chất liệu của tất cả Phật tánh. 
Bỏ chữ đầy đủ để tránh hiểu nhầm là đầy đủ chất liệu của từng Phật tánh.
TẤT CẢ (bỏ chữ mỗi) Phật tánh đều đồng nhất với nhau và đồng nhất với Vũ Trụ...

Từ Kính: 
Bạch sư phụ. Sự hiểu của con về bản thể vật chất là như thế này ạ:
Bản thể vật chất:
Bản thể vất chất là cái gốc rốt ráo thường hằng của mỗi sự vật hiện tượng.
Chất liệu của bản thể vật chất là không gian.
Có vô số bản thể vật chất. 
Có vô số bản thể vật chất giống nhau (có khối lượng chất liệu không gian bằng nhau)
Có vô số bản thể vất chất khác nhau (có khối lượng chất liệu không gian khác nhau)
Có bản thể vật chất vô cùng bé (có khối lượng chất liệu không gian vô cùng bé)
Có bản thể vật chất vô cùng lớn (có khối lượng chất liệu không gian vô cùng lớn)
Mỗi một bản thể vật chất sở hữu riêng một khối lượng chất liệu không gian, không chung phần không sáp nhập với bất kỳ bản thể vật chất nào khác. 
Khác với phật tánh. Một bản thể vật chất không có chất liệu không gian trùm khắp vũ trụ. Mà tất cả chất liệu của tất cả bản thể vật chất mới đủ trùm khắp vũ trụ tức là ở khắp tất cả chỗ trong vũ trụ. Giữa các bản thể vật chất không có bất kỳ khoảng trống nào. Tại một vị trí trong vũ trụ chỉ có chất liệu của một bản thể vật chất. Không tồn tại một vị trí nào mà có chất liệu của hai bản thể vật chất.

Pháp Không Chân Như: 
Đúng vậy Từ Kính.

Từ Kính: 
Bạch sư phụ, sự hiểu của con về bản tánh của bản thể vật chất là như thế này ạ: 
Bản tánh của bản thể vật chất:
1 Tính phân tranh thể tích riêng. 
Bản thể vật chất có bề mặt giới hạn. Có thể nó có duy nhất một bề mặt ngoài, có thể nó có một bề mặt ngoài và một hoặc nhiều bề mặt trong. Bề mặt trong của bản thể vật chất là bề mặt tiếp xúc với bề mặt ngoài của bản thể khác đang nằm bên trong bề mặt ngoài của nó. Đó là tính chiếm giữ độc lập một vùng thể tích trong vũ trụ của bản thể vật chất.
Bản thể vật chất có tính giãn nở. Nó có thể co vào hoặc giãn ra. Sự co vào hoặc giãn ra này làm thay đổi kích thước (thể tích) của bản thể vật chất nhưng khối lượng chất liệu của bản thể vật chất đó thì không thay đổi. Vì sao lại có sự giản nở. Là vì cường độ chất liệu tại vị trí trên bề mặt của nó cao hơn cường độ chất liệu tại vị trí tiếp xúc với vị trí đó nhưng thuộc bề mặt của bản thể khác. Sự tranh giành này xảy ra cho đến khi mật độ tại hai vị trí đó cân bằng nhau. Đó là tánh tranh giành thể tích của bản thể vật chất. Vậy cường độ chất liệu hay mật độ không gian được hiểu là độ đậm đặc nó được tính bằng khối lượng chia cho thể tích. 
Ở phần này con hiểu rằng: Khối lượng của bản thể vật chất thì không bao giờ thay đổi chỉ có thể tích (kích thước) của bản thể vật chất là thay đổi do tính giãn nở của nó phải không Sư phụ?
2. Tính phân bố có tâm.
Tại mỗi bản thể vật chất luôn tồn tại một vị trí mà tại vị trí đó mật độ (cường độ) chân không lớn nhất so với các điểm khác thuộc bản thể.. Điểm này là tâm của bản thể. Những điểm thuộc bản thể càng xa tâm thì cường độ chân không càng nhỏ. 
3. Tính cân bằng, 
Mỗi bản thể vật chất đều có một trọng tâm. Tâm của bản thể luôn có khuynh hướng di chuyển về trọng tâm của bản thể. Tánh luôn có khuynh hướng di chuyển tâm về trọng tâm gọi là tính cân bằng của bản thể. 
Vì ba thuộc tính cố hữu trên của bản thể vật chất mà: Bản thể vật chất biến đổi không ngừng về hình dạng, thể tích. Có hình dạng nhưng không thể xác định hình dạng, có thể tích nhưng không thể xác định thể tích, có vị trí nhưng không thể xác định vị trí. Và đó cũng là nguyên nhân khởi ra mọi sự vật hiện tượng trong vụ trụ.

Pháp Không Chân Như:
Từ Kính trình bày sự hiểu về bản tánh của bản thể vật chất thì phần lớn đều đúng. Trong đó có các đoạn sau đây thì chưa đúng.
"Tại mỗi bản thể vật chất luôn tồn tại một vị trí mà tại vị trí đó mật độ (cường độ) chân không lớn nhất so với các điểm khác thuộc bản thể."
Nên nói là: TRONG mỗi bản thể vật chất luôn tồn tại một vị trí mà tại vị trí đó mật độ (cường độ) chân không lớn nhất so với các điểm khác thuộc bản thể.
"Vì ba thuộc tính cố hữu trên của bản thể vật chất mà: Bản thể vật chất biến đổi không ngừng về hình dạng, thể tích. Có hình dạng nhưng không thể xác định hình dạng, có thể tích nhưng không thể xác định thể tích, có vị trí nhưng không thể xác định vị trí. Và đó cũng là nguyên nhân khởi ra mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ."
Nên nói là: 
Vì ba thuộc tính cố hữu trên của bản thể vật chất mà: Bản thể vật chất biến đổi không ngừng về hình dạng, thể tích. Có hình dạng nhưng không thể xác định hình dạng, có thể tích nhưng không thể xác định thể tích, có vị trí nhưng không thể xác định vị trí. 
Ba thuộc tính cố hữu trên của bản thể vật chất là nguyên nhân khởi ra mọi sự vật hiện tượng trong Vũ Trụ.
Từ Kính! Tôi hỏi cô, sự phân bố chân không trong bản thể vật chất có theo phương thức bất biến hay ngẫu nhiên?

Từ Kính: 
Dạ Sư phụ. Sự phân bố chân không trong bản thể vật chất theo phương thức bất biến ạ. Sự phân bố chân không trong bản thể vật chất phụ thuộc vào ba thuộc tính của bản thể vật chất, Mà ba thuộc tính này là cố hữu, luôn tồn tại, bất biến, không phân biệt trước sau nhưng nương tựa vào nhau. Con hiểu vậy có đúng không ạ?

Pháp Không Chân Như: 
Từ Kính đọc chưa hết bài giảng của tôi về món thứ năm.

Từ Kính: 
Dạ con xin lỗi Sư phụ. Đúng là đoạn này con chưa đọc kỹ ạ. Con không nên nói là con đã đọc hết bài giảng của thầy về năm món. Con mới đọc đến đoạn con vừa trình bày thì còn thấy đã nhiều quá rồi, con không nhanh chóng ghi lại thì con sẽ bị rối loạn, không biết mình đã đọc gì, học gì. Lại đúng lúc Sư phụ hỏi nên con trả lời luôn. Con xin phép được đọc kỹ hơn về phần này ạ. Nam Mô Phật. Nam Mô Sư phụ.

Chân Như Bồ Đề: 
Nam Mô Phật!
Bạch Sư Phụ!
Con vẫn đang cố gắng quán chiếu với những thứ bên ngoài. Nhưng vẫn chưa thể hiểu rốt ráo được ạ. Nam Mô Phật!

Pháp Không Chân Như:
Chư vị không hiểu chỗ nào thì trích lại để tôi dùng nhiều phương tiện khác để làm rõ.

Chân Như Bồ Đề: 
Nam Mô Phật! Thưa Sư Phụ! Phần này con quán chiếu từ bài Sự kiện Khởi Nguyên Vũ trụ vào 5 Phẩm mà Sư Phụ đang giảng ạ. Mong Sư Phụ hoan hỷ giúp con!
Vũ trụ khởi sinh từ cái không có. Tại mốc 0 của thời gian vũ trụ, sinh khởi đồng thời tồn tại vô số bản thể vật chất và vô số Phật Tánh, cùng với không gian và thời gian. Với bản tánh của bản thể vật chất mà Vũ trụ có thể giản nở ra thật to lớn tồn tại theo thời gian từ vô thỉ đến nay.
Sự biến dạng và chuyển động của bản thể vật chất là do sự thay đổi cường độ chân không, và có sự lan truyền. Sự chuyển động và lan truyền cần có quãng đường và thời gian.
Điều con chưa rõ là thời gian có liên hệ như thế nào về sự biến dạng, chuyển động và lan truyền cường độ chân không ạ? (Ý của con là thời gian để sự biến dạng, chuyển động và lan truyền cường độ chân không của bản thể vật chất có theo quy luật hay chu kỳ không ạ). Nam Mô Phật!

Pháp Không Chân Như:
Tôi không hiểu câu hỏi của Chân Như Bồ Đề.

Chân Như Bồ Đề:
Nam Mô Phật! Con xin được ví dụ ạ! Sự biến dạng, chuyển động và và sự lan truyền cường độ chân không của bản thể vật chất, như là: sự sinh tử của chúng sinh từ vị trí này trong một khoảng thời gian đến sự sinh tử của chúng sinh tại vị trí khác trong một khoảng thời gian, tiếp diễn và lặp lại như vậy. Hoặc như ngày có 12 tiếng, đêm có 12 tiếng. Như vậy, thời gian đó có tồn tại theo một quy luật hay chu kỳ không ạ?

Pháp Không Chân Như:
Câu hỏi của Chân Như Bồ Đề không liên quan trực tiếp để hiểu năm món mà tôi đã giảng. Lạc đề.
Chư Phật tử! Trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy:
"Từ một thể chơn tâm không khác, vì vọng niệm phân biệt, có năng sở, bỉ thử sai khác, nên hiện ra có hư không và thế giới. Nhơn có hư không thế giới nên mới có chúng sanh. Đã có thế giới và chúng sanh lăng xăng đối đãi nhau, nên khởi lên vô số vọng tưởng phân biệt: Tốt, xấu, phải chẳng v..v... Vì thế mà sanh ra đủ các phiền não trần lao nhiễm ô. Cái có hình tướng và sanh diệt là thế giới, cái không hình tướng và yên tịnh là hư không, khác với hư không, thế giới là chúng sanh vậy"...
"Phật tánh của chúng sanh chẳng hư, chẳng hoại, chẳng bị kéo, bị bắt, chẳng bị trói, bị buộc. Như trong chúng sanh có hư không, vì tất cả chúng sanh đều có hư không chẳng chướng ngại, chúng sanh đều chẳng tự thấy mình có hư không này. Giả sử nếu chúng sanh chẳng có hư không thời không có những sự đến, đi, đứng, ngồi, nằm, chẳng sống chẳng lớn. Do nghĩa này nên trong kinh ta nói tất cả chúng sanh đều có hư không giới, hư không giới đây gọi là hư không. Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy. Bực Thập trụ Bồ tát thấy được phần ít như châu kim cương."
Những từ và những cụm từ sau đây thì Phật thường dùng:
- Phật tánh.
- Chân Như.
- Niết Bàn.
- Hư Không.
- Không và Tánh Không.
- Mười phương hư không hay hư không trùm khắp giáp cả mười phương.
- Trùm khắp hư không.
Đây là những từ, cụm từ mà từ sau khi thời của Phật đến nay, chưa có ai thấu biết được. Vì thế, các khế kinh mà Phật dạy cho chư Bồ tát như Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Bát Nhã,... thì từ sau thời Phật đến nay, chưa có ai thấu hiểu được.
Nay tôi đã dùng phương tiện ngôn ngữ thời đại này, dụng cái biết của con người thời đại mà giảng bày cho chư Phật tử hiểu biết chân chánh về sự thật của Vũ Trụ Nhân Sinh.
Vậy tôi hỏi chư Phật tử, trước đây chư Phật tử hiểu như thế nào về các từ và cụm từ đó. Bây giờ, chư Phật tử hiểu như thế nào về các từ và cụm từ đó?
Từ Kính! Tôi hỏi cô, trước khi giãn nở, bản thể vật chất chừng ấy kích thước, chừng ấy chân không. Sau khi giãn nở thì nó lớn hơn nhưng cũng chừng ấy chân không. Vậy sau khi giãn nở lẽ ra bên trong nó, chân không bị đứt, bị tách, bị gián đoạn nhưng chân không trong nó lại không bị đứt, không bị tách, không bị gián đoạn, nó vẫn tương tục là vì nguyên nhân gì?

Từ Kính: 
Bạch sư phụ. Trước đây sự hiểu của con về các cụm từ này:
(- Phật tánh.
- Chân Như.
- Niết Bàn.
- Hư Không.
- Không và Tánh Không.
- Mười phương hư không hay hư không trùm khắp giáp cả mười phương.
- Trùm khắp hư không)
rất mơ hồ, không rõ ràng. Khi đọc Bát Nhã Tâm Kinh con hiểu từ không nghĩa là không có gì. Mọi sự vật hiện tượng đều là tập hợp của trùng trùng duyên khởi mà thành. Ví như con người là đất, nước, gió lửa (xác thân, máu, hơi thở, nhiệt độ); ví như ngôi nhà là thép, xi măng, gạch, gỗ,... ví như quần áo là vải, kim, chỉ.... Nó không tự nhiên mà có, khi những duyên này mất đi thì sự vật hiện tượng đó cũng chẳng còn. Tựu chung lại trong câu "Đủ duyên thì mây tụ, hết duyên thì mây tan". Con nghĩ từ một vật to lớn như thế nào thì khi các duyên cứ mất dần mất dần thì vật đó sẽ bị xé nhỏ ra cho tới khi chẳng còn gì nữa. Khi đó con hiểu sắc tức thị không. Còn thọ, tưởng, hành, thức cũng là không thì con lại hiểu rằng: Tất cả những dòng suy nghĩ của mình, chợt đến rồi chợt đi. Suy nghĩ, phân biệt cũng là do mắt ta nhìn, tai ta nghe, mũi ta ngửi... mà những thứ đó đều không có thật tướng, đều là giả tạm, vô thường. Khi những thứ đó biến đổi thì dòng suy nghĩ ban đầu của ta cũng chẳng còn nữa. Thọ, tưởng, hành, thức có được từ những thứ không có thật thì cuối cùng nó cũng trở về không. 
Dạ sư phụ con đã từng hiểu như vậy về từ không trong Bát nhã tâm kinh ạ. Còn những từ kia hoặc là con không hiểu hoặc là con cũng chưa thắc mắc nên con cũng không suy nghĩ xem nó có nghĩa là gì. Trong một năm qua, khi thực sự tiếp cận Phật Pháp, con chỉ thường suy nghĩ, tìm hiểu để làm sao đối trị với các phiền não trong cuộc sống, làm sao cho cuộc sống an lạc hơn. Nam Mô Phật.

Quảng Pháp: 
Con bạch Thầy, khi bản thể vật chất giãn nở, chất liệu của nó không bị đứt gãy vì: Chất liệu của mọi bản thể là CHÂN KHÔNG, chân không này thì khác với chân không theo định nghĩa của khoa học vì chân không này có CƯỜNG ĐỘ. Vì khối lượng của một bản thể vật chất là bất biến, tức mỗi bản thể sở hữu 1 lượng chân không bất biến nên khi nó tăng thể tích thì nó giảm lượng chân không.

Pháp Không Chân Như:
Quảng Pháp! Như ông nói khi bản thể vật chất giãn nở thì mật độ chân không của nó giảm, tức là cường độ chân không tại mỗi vị trí thuộc bản thể sẽ giảm thì đúng rồi. Nhưng tại sao cường độ chân không tại mỗi vị trí lại giảm được, nó lấy cái gì để mà giảm. Nếu nói do bản tánh phân bố có tâm nên chân không sẽ phân bố lại thì nó lấy cái gì để phân bố lại? Còn lượng cường độ chân không đã bị giảm kia thì nó ở đâu. Tại sao nó có thể ở đó được? Mặt khác, sau khi cường độ chân không giảm rồi thì lẽ ra tại vị trí đó và vị trí kế cận sẽ bị tách ra, bị đứt lìa, bị gián đoạn do kích thước của bản thể tăng. Vậy lấy chân không ở đâu ra để phủ lấp và bằng cách nào để phủ lấp làm cho chân không được tương tục?
Quảng Pháp! Nếu nói chân không tương tục là bản tánh của nó cho nên nó không bị đứt, không bị tách, không bị gián đoạn thì lẽ ra bản thể vật chất sẽ không thể giãn nở ra được. Vậy sao lại nói tánh giãn nở là tánh của bản thể?

Quảng Pháp: 
Bạch thầy, theo con hiểu thì mỗi bản thể vật chất ví như một quả bóng, chỉ khác là bề mặt ngoài của nó thì không giống như vỏ quả bóng, vỏ quả bóng có lực liên kết còn bề mặt ngoài của vi trần thì không có, nó giãn nở hay co lại là do lực tương tác tại các bề mặt tiếp xúc. Lượng chân không ví như lượng hơi đã được bơm vào trong quả bóng. Nếu như không có các lực tương tác này thì 1 vi trần sẽ giãn nở ra đến vô cùng (có thể vi trần chủ của Vũ trụ thì đang như vậy). Nếu nói lượng chân không trong 1 vi trần đang giãn ra sẽ bị đứt gãy thì chất liệu đó phải là những thứ vô thường chứ không phải thứ thường hằng như CHÂN KHÔNG này.

Từ Kính:
Bạch sư phụ. Câu hỏi thầy hỏi con khó quá, hiện tại con chưa trả lời được ạ. Nam mô Phật.

Pháp Không Chân Như:
Quảng Pháp! Quả bóng giãn ra là do lượng không khí bên trong tăng lên. Trong khi bản thể vật chất thì lượng chân không bất tăng bất giảm.
Không có gì khó. Khó bỡi vì chưa biết, chưa hiểu. Chư vị hãy đọc kỹ lại năm món mà tôi đã giảng. Chỗ nào không hiểu thì trích ra để hỏi.
Những câu hỏi của tôi ở trên là để tôi biết chư vị đã hiểu đến đâu.
Khi hiểu thấu rồi, bất kỳ khế kinh nào, chư vị cũng hiểu rõ ý Phật, bất kỳ những điều con người không rõ, chư vị đều rõ, bất kỳ những điều khoa học không giải thích được, chư vị đều giải thích được. Khi đó, nếu đem cộng tất cả trí của thiên nhân cũng không bằng sợi lông của chư vị. Vì trí của chư vị có được là chân trí.
Khi có được chân trí, chư vị sẽ tự tại, buông xả, tinh tấn hành pháp và hoằng pháp không chướng ngại, giúp mình giúp người thoát khỏi mọi khổ ách, đạt được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Quảng Pháp: 
Nam mô Phật. Con bạch thầy, vì vi trần và chất liệu chân không của nó là thứ thường còn nên con chỉ có thể ví bằng thứ vô thường tương đối như vậy, chứ không phải nó đúng là như vậy. Vì Chân không là chất liệu của mọi vi trần và là thứ thường còn, nên con nói: Nó không thể đứt gãy, rạn vỡ được. Vì đứt gãy, rạn vỡ chỉ được chỉ cho những thứ vật chất mà khoa học đã biết, và những thứ đó đều là những thứ vô thường.

Pháp Không Chân Như: 
Quảng Pháp! Chân không thường hằng, chẳng bị đứt, chẳng bị tách, chẳng bị gián đoạn. Đó là tri kiến Phật. Nó chẳng bị đứt, chẳng bị tách, chẳng bị gián đoạn thì lẽ ra bản thể chẳng thể giãn nở ra được. Vậy sao nó lại giãn nở ra được. Ví như không khí trong một pittông, nếu kéo pittông thì không khí bị tách. Ví như một cục sắt vuông có gắn lực kéo hai đầu, nếu kéo nó dãn bề dài mà không giảm bề ngang thì sắt bị tách, bị đứt, bị gián đoạn. Vậy vì nguyên nhân gì bản thể giãn nở mà chân không trong nó chẳng bị tách, chẳng bị đứt, chẳng bị gián đoạn. Nếu không có nguyên nhân thì chẳng phải tôi đã giảng điên đảo rồi ư.

Chân Như Tuệ Không:
Nam mô Phật! Thưa Sư Phụ, như con hiểu thì cường độ chân không tại mọi vị trí luôn thay đổi, không gián đoạn, tương tục, nó không bao giờ đứng yên trong khoảng thời gian dù rất ngắn. Và sự phân bố chân không trong bản thể vật chất không đều nhau. Trong bản thể có một vị trí có lượng chân không cao nhất được gọi là tâm bản thể. Lượng chân không được phân bố giảm dần khi xa tâm bản thể. Với mọi bản thể vật chất "trước khi giãn nở, bản thể vật chất chừng ấy kích thước, chừng ấy chân không. Sau khi giãn nở thì nó lớn hơn nhưng cũng chừng ấy chân không". Vì trong khi giãn nở, lượng chân không trong bản thể vật chất phân bố lại theo một phương thức bất biến và phân bố có tâm, cường độ chân không tại mọi vị trí thay đổi và giảm so với trước khi giãn nở, nên lượng chân không của bản thể vật chất vẫn lấp phủ bản thể vật chất, không có vị trí nào trống rỗng, dù khi bản thể vật chất có thể tích lớn hơn. Nên sau khi giãn nở bên trong nó không bị đứt, không bị tách, không bị gián đoạn, nó vẫn tương tục. Xin Sư Phụ giảng dạy cho con. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Sư Phụ.

Pháp Không Chân Như: 
Chân Như Tuệ Không! Nói rằng khi bản thể vật chất thay đổi hình dạng, chân không thuộc bản thể đó phân bố lại. Đó là tri kiến Phật. Nhưng nó là chân không, là vật chất, nó chẳng có hiểu biết cũng chẳng có phương tiện như tay chân. Vậy thì nó phân bố lại là do nguyên nhân gì?

Chân Như Bồ Đề: 
Nam Mô Phật! Bạch Sư Phụ! Trước đây con không có tìm hiểu Phật Pháp, nên có những từ và cụm từ con chưa biết đến. Nhưng hôm nay, con xin phép được trình bày sự hiểu của con theo lối suy nghĩ trước đây của con ạ!
- Phật tánh: là tâm của chúng sinh, là lòng từ bi. Một người có trái tim nhân từ, vị tha đối với mọi người, mọi vật. Luôn bao dung và tha thứ mọi điều ác, sẵn sàng cứu giúp người và vật khi gặp hoạn nạn. Là hình tượng của các vị Phật, Bồ Tát có ở trong Chùa hay trong phim,ảnh.
- Chân Như: là sự thật. Một người luôn có tâm thiện và tâm ác. Khi tâm ác mất đi thì tâm thiện vẫn còn. Đó là bản tánh sẵn có của mỗi cá thể.
- Niết Bàn: là viên tịch, là chết đi, là mất hết. Không còn hoạt động, không còn biến hóa.
- Hư Không: là sự trống không, là không có gì, không có sự tồn tại.
- Không và Tánh Không:
+ Không: Trước đây khi nghe câu "sắc tức thị không". Con nghĩ sắc là sắc đẹp. Không là không chân thật, không quan trọng. Vẻ bề ngoài của một con người là không quan trọng, quan trọng là tâm của họ ra sao.
+ Tánh không: là không chấp nhất, không chạy theo danh sắc. Buông bỏ mọi thứ.
- Mười phương hư không hay hư không trùm khắp giáp cả mười phương: Trước đây nghe từ mười phương con chỉ nghĩ nói về Trái đất. Phật và Bồ Tát thì ở trên bầu trời cách xa Trái đất. 
- Trùm khắp hư không: Từ Trùm khắp con lại nghĩ như là cái lồng bàn đậy cơm vậy. Bên trong trống rỗng.
Nhưng bây giờ, sau khi nghe các bài giảng của Sư Phụ. Con biết mình đã sai lầm rồi. 
Nam Mô Phật!
Con xin nói lên sự hiểu của con ngay tại lúc này ạ!
Mong Sư Phụ hoan hỷ!
- Phật tánh: Mỗi chúng sinh đều có Phật tánh. Phật Tánh là tự tánh, là Ngã, là Như Lai tạng. Trong Vũ trụ thì có vô số Phật Tánh. Số lượng Phật Tánh bằng với số lượng chúng sinh. Phật Tánh của mỗi chúng sinh đều trùm khắp Vũ trụ: "Giống như một khối nước. Nước trải khắp cả khối, xuyên thấu như vậy". Tất cả chỗ trong Vũ trụ đều có chất liệu Phật tánh của mỗi chúng sinh, mỗi vị trí trong Vũ trụ đều có đầy đủ chất liệu Phật Tánh của tất cả chúng sinh tại vị trí đó: "Như một nồi nước lẩu chua cay ngọt, thì bất cứ nước chỗ nào ta múc ra từ nồi lẩu đều có vị chua cay ngọt". Nhưng tất cả Phật Tánh thì không sáp nhập, không hợp nhất thành 1 thể. Mà chất liệu của Phật Tánh nào là của Phật Tánh đó, sở hữu độc lập với một lượng chất liệu xác định. Chất liệu Phật Tánh là một trường tương tục, không bị phân chia, không tự phân chia. Tồn tại vĩnh hằng.
- Chân Như: là sự chân thật của Vũ trụ. Về vật chất thì mọi vật chất, mọi sự vật, hiện tượng trong Vũ trụ đều có nguồn gốc là chân không, toàn thể là chân không, đâu đâu cũng vậy, chẳng có thứ chi khác, trong sạch như vậy gọi là chân như.
- Niết Bàn: Trở về với Phật Tánh của chính mình, tồn tại vĩnh hằng cùng Vũ trụ.
- Hư Không: Trường nội tại của Vũ trụ là chân không, chất liệu duy nhất là chân không, không có thứ khác.
- Không và Tánh Không: Bản thể vật chất là nhân khởi ra mọi sự vật, hiện tượng trong Vũ trụ. Nó có 3 bản tánh:
+ Một là tánh phân tranh thể tích riêng.
+ Hai là tánh phân bố có tâm.
+ Ba là tánh cân bằng.
Vì 3 bản tánh này, nên bản thể vật chất có bề mặt nhưng không thể xác định bề mặt tức không thể xác định được hình dạng cụ thể, có thể tích nhưng không thể xác định được là bao nhiêu vì hình dạng nó thay đổi liên tục, có vị trí nhưng không thể xác định vị trí, có thuộc tánh tĩnh nhưng không thể tĩnh, có thuộc tánh cân bằng nhưng không thể cân bằng, có tâm nhưng không thể xác định tâm vì tâm luôn thay đổi tương tục. Bản thể vật chất có bề mặt, có hình dạng, có thể tích, có vị trí mà không thể kết luận bản thể vật chất có bề mặt, có hình dạng, có thể tích, có vị trí. Vì thế bản thể vật chất không thể hiện sự tồn tại của chính nó. Nên ta nói nó không có tự tánh. Hay còn nói tánh không thể hiện sự tồn tại của chính nó là tánh không.
Mọi bản thể vật chất đều có trường nội tại là chân không, không có thứ chi khác cấu tạo ra nó nên nói thể tánh của nó là thể không.
Tánh không và thể không của mọi sự vật, hiện tượng được gọi chung là "không".
- Mười phương hư không hay hư không trùm khắp giáp cả mười phương: Cả Vũ trụ đều là chân không, chỉ có chất liệu là chân không. Một trường tương tục như thế. Không có thứ gì khác, không có khoảng cách, không có kẻ hở, không bị cắt đứt, không bị tách, không bị hư hoại, không tự biến đổi hoặc bị biến đổi thành thứ chi khác. 
- Trùm khắp hư không: Là sự xuyên thấu cả Vũ trụ, xuyên thấu qua chân không. Có mặt ở khắp tất cả chỗ, từng điểm, từng vị trí đều có mặt. Nam Mô Phật!
Nam Mô Phật! Bản thể vật chất là một thực thể tồn tại vĩnh hằng. Và:
- Không bao giờ bị phân chia và cũng không bao giờ tự phân chia được.
- Không bao giờ thay đổi tổng giá trị trường nội tại và cũng không bao giờ bị thay đổi tổng giá trị trường nội tại.
- Xuyên suốt cả Vũ trụ là vô số bản thể vật chất. Trường nội tại của bản thể vật chất là một trường chân không tương tục. Trường nội tại của bản thể vật chất là chân không. Chân không là trường tương tục, không có kẻ hở. 
- Vì 3 bản tánh cố hữu của bản thể vật chất là: phân tranh không gian riêng, phân bố có tâm và tánh cân bằng. Nên nó luôn biến dạng, chuyển động và có sự lan truyền. Trong bề mặt của mỗi bản thể vật chất có thể có một hoặc nhiều bản thể vật chất khác. Cả Vũ trụ luôn phân tranh thể tích, lấn chiếm vị trí nên không có sự ổn định và cân bằng dù trong 1 khoảng thời gian ngắn. 
- Bản thể vật chất có thể co lại, hoặc giản nở. Điều này chỉ làm thay đổi thể tích của bản thể vật chất. Nhưng không làm chất liệu trong bản thể vật chất bị đứt, bị tách ra, bị gián đoạn. Vì chất liệu của bản thể vật chất là chân không, là một trường tương tục không thể tách rời và không có chỗ để tách rời.

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Bồ Đề đã trình bày sự hiểu của mình về các từ và cụm từ:
- Phật tánh.
- Chân Như.
- Niết Bàn.
- Hư Không.
- Không và Tánh Không.
- Mười phương hư không hay hư không trùm khắp giáp cả mười phương.
- Trùm khắp hư không.
Là hiểu đúng ý của tôi. Riêng câu sau đây cần được nói lại cho rõ:
"Số lượng Phật Tánh bằng với số lượng chúng sinh" thì chưa chính xác. Mà phải nói là số lượng Phật tánh bằng với số lượng chúng sinh cộng với mọi cá thể hữu tình không gọi là chúng sinh.
Tán thán Chân Như Bồ đề.

Chân Như Bồ Đề: 
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Nam Mô Sư Phụ!
Con xin cảm ơn Sư Phụ đã chỉ dạy cho con! Nam Mô Phật!

Chân Như Vô Ngại:
Nam mô Phật. Con cũng không trả lời được câu hỏi của Sư phụ. Con nói thế này không biết có đúng không?
Do đặc tính thứ 2 của bản thể vật chất có tính phân tranh không gian. Bản chất của tính phân tranh là sự chênh lệch về cường độ không gian của các điểm kế cận nhau, tạo nên động lực phân tranh. 
Khi một vùng không gian có mật độ cao gặp một vùng không gian có mật độ thấp hơn nó sẽ lập tức chiếm không gian của vùng có mật độ thấp. Khi chiếm được không giam của vùng có mật độ thấp thì vùng có mật độ thấp sẽ co lại, vùng đi chiếm không gian sẽ nở ra do chiếm được. Khi vùng không gian chiếm được thì có mật độ cho nên những nơi có mật độ cao của bản thể sẽ phân bố lại để giữ không gian đã chiếm của mình khiến cho không gian những nơi khác của bản thể giảm đi. Khi không gian của bản thể giảm đi thì lại tạo nên sự chênh lệch với những nơi khác thuộc bản thể xung quanh, lại là nguyên nhân phân tranh tiếp theo. Quá trình phân tranh xảy ra liên tục như vậy. 
Quá trình phân tranh không khiến cho các bản thể bị nứt gãy, ngắt quãng vì tất cả sự phân tranh xảy ra cùng 1 lúc. Các điểm bị chiếm mất không gian thì ngay lập tức không gian khác tại những điểm khác có sự chênh lệch cường độ và liền bị lấn chiếm bởi các điểm khác. Quá trình phân tranh không bao giờ dứt như vậy. 
Con chỉ hiểu được vậy thôi ạ. Xin Sư phụ giảng dạy ạ. Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.

Từ Kính: 
Bạch sư phụ, sau khi được sư phụ giảng dạy thời gian qua, thì sự hiểu của con về các từ: 
- Phật tánh.
- Chân Như.
- Niết Bàn.
- Hư Không.
- Không và Tánh Không.
- Mười phương hư không hay hư không trùm khắp giáp cả mười phương.
- Trùm khắp hư không.
như sau ạ:
- Phật tánh (con đã trình bày)
- Chân như: Là chân tướng của vũ trụ. Trong vũ trụ ngoài phật tánh thì chỉ có một chất liệu duy nhất là chân không. Một thể vũ trụ chỉ toàn là chân không như vậy được gọi là Chân Như.
- Hư không: Là chân không. 
- Mười phương hư không hay hư không trùm khắp cả mười phương: Là tất cả mọi nơi, mọi vị trí trong vũ trụ đều là chân không. Chân không trùm khắp vũ trụ. Không có vị trí nào trong vũ trụ mà tại vị trí đó không có chân không. 
- Niết Bàn: Là chấm dứt vô minh, dứt sạch phiền não, trở về với phật tánh khi xác thân tiêu tan không còn bị ràng buộc ở vị trí nào mà trùm khắp vũ trụ. 
- Không và tánh không: 
Tánh không: Mọi sự vật hiện tượng đều có cái gốc là bản thể vật chất rốt ráo. Chất liệu của bản thể vật chất là chân không. Bản thể vật chất có 3 thuộc tính cố hữu: Tính phân tranh thể tích riêng, tính phân bố có tâm, tính cân bằng. Vì 3 thuộc tính này mà bản thể vật chất có hình dạng nhưng không thể xác định hình dạng, có vị trí nhưng không thể xác định vị trí, có thể tích nhưng không thể xác định thể tích. Bản thể vật chất không thể hiện sự tồn tại của chính nó. Bản thể vật chất không có tự tánh nên gọi là tánh không.
Mọi bản thể vật chất đều có trường nội tại là chân không, không có thứ chi khác cấu tạo ra nó nên nói thể tánh của nó là thể không. 
Không: là tánh không và thể không của mọi sự vật hiện tượng. 
Nam mô Phật.

Pháp Không Chân Như: 
Từ Kính trình còn thiếu về cụm từ "trùm khắp hư không". Hoan hỷ trình bày bổ sung.

Từ Kính: 
Dạ sư phụ. Con xin trình bày về sự hiểu của con về cụm từ "trùm khắp hư không" ạ.
Trùm khắp hư không: Là sự có mặt sự xuyên thấu mọi điểm, mọi vị trí trong vũ trụ của chân không ạ. Nam mô Phật. Nam mô Sư phụ.

Pháp Không Chân Như: 
Từ Kính trình bày sự hiểu của mình về các từ và cụm từ:
- Phật tánh.
- Chân Như.
- Niết Bàn.
- Hư Không.
- Không và Tánh Không.
- Mười phương hư không hay hư không trùm khắp giáp cả mười phương.
- Trùm khắp hư không.
Là đúng ý tôi.
Tuy nhiên tôi cần làm rõ một số từ để tránh hiểu sai lệch trong ý nghĩ.
Về Phật tánh thì tôi đã làm rõ cho Từ Kính ở trên rồi.
Về Không và Tánh Không. Từ Kính nói rằng: Bản thể vật chất không có tự tánh nên gọi là tánh không.
Về từ Tự Tánh mà Từ Kính đã dùng trong câu này chỉ đúng khi nó được định nghĩa như vầy: Tự Tánh của một đối tượng là tánh tự tại của chính đối tượng đó, tức là tánh thể hiện sự tồn tại tròn đủ của chính đối tượng đó. Một đối tượng thiếu vắng tự tánh tức là thiếu vắng tánh thể hiện sự tồn tại tròn đủ của chính đối tượng đó. Ví như ngọn đèn thì ta không thể xác định giới hạn biên của nó, nên ta nói nó thiếu vắng tánh thể hiện sự tồn tại tròn đủ chính nó.
Nếu từ Tự Tánh được định nghĩa khác thì không dùng định nghĩa đó để hiểu câu nói của Từ Kính.
Như trước đây, ngài Phạm Chí Tiên Ni có dùng ngọn đèn để ví cho Ngã. Phật cũng dùng ngọn đèn để ví cho Ngã. Nhưng Phật cho rằng ví dụ của ngài Phạm Chí Tiên Ni thì không đúng, còn ví dụ của Phật thì đúng. Như vậy, đối với Phật thì đúng, nhưng đối với ngài Phạm Chí Tiên Ni thì không đúng vì hai vị thấy biết theo hai cách khác nhau.
Cho nên, khi ta nói từ nào, điều quan trọng là trong ta định nghĩa từ đó như thế nào. Hai người nói chung một từ nhưng có thể có nghĩa khác nhau. 
Ví như Phật nói Ngã trùm khắp hư không, người khác cũng nói Ngã trùm khắp hư không nhưng hai câu nói này có nghĩa khác nhau. Vì cái biết của Phật về hư không khác với cái biết của người khác về hư không. Vậy nên, nếu cái biết về hư không của người khác khác với Phật, ví như kẻ đó cho rằng vàng và hư không là hai thứ, mà nói rằng Ngã trùm khắp hư không thì là sai. Còn Phật nói Ngã trùm khắp hư không thì lại đúng.

Chân Như Tuệ Không:
Nam mô Phật! Thưa Sư Phụ!
Bản thể vật chất có ba thuộc tính cố hữu, ba thuộc tính cố hữu này luôn có khuynh hướng bộc lộ cùng lúc, không trước không sau.
Và khi phân tranh và bị phân tranh giữa các bản thể vật chất nên vị trí tâm của các bản thể vật chất thay đổi dẫn đến lượng chân không trong bản thể phân bố lại.
Con chưa thấu hiểu được hết lời dạy của Sư Phụ. Con xin cố gắng!
Nam mô Đại Bồ Tát.
Nam mô Phật! Bạch Sư Phụ:
Trước đây những từ và những cụm từ sau:
- Phật tánh
- Chân như
- Niết Bàn
- Hư không
- Không và Tánh không
- Mười phương hư không hay hư không trùm khắp giáp cả mười phương
- Trùm khắp hư không
Con hiểu và có nhiều suy nghĩ như thế này:
Phật tánh: là tánh Phật, tâm Phật, mỗi chúng sinh đều có tâm Phật là tâm Từ Bi Hỷ Xả.
Chân như: là sự chân thật như vậy của một thứ gì đó, nó vốn là chính nó.
Niết bàn: là một nơi giống như Thế Giới Tây Phương Cực Lạc vậy.
Hư không: là trên không trung trên bầu trời.
Không và Tánh không: con hiểu là tâm không vướng bận điều chi.
Mười phương hư không hay hư không trùm khắp giáp cả mười phương: là các cảnh giới của các cõi Tiên Phật trên không trung.
Trùm khắp hư không: bao trùm các cõi trên bầu trời.
Nam mô Sư Phụ!
Nam mô Phật! Bạch Sư Phụ:
Sau khi được học các bài giảng của Sư Phụ, hiện tại trong lúc này thì con hiểu những từ và những cụm từ:
- Phật tánh
- Chân như
- Niết bàn
- Hư không
- Không và Tánh không
- Mười phương hư không hay hư không trùm khắp giáp cả mười phương
- Trùm khắp hư không
Như sau:
PHẬT TÁNH: hay NGÃ là thứ vốn tự có của mỗi chúng sinh, là thứ thường hằng, chẳng hư hoại, chẳng biến đổi, khi chúng sinh được giải thoát thì gọi là Phật. Mỗi chúng sinh có duy nhất một Phật tánh.
Mỗi Phật tánh tồn tại độc lập và sở hữu một lượng chất liệu xác định.
Mỗi Phật tánh thì trùm khắp Vũ Trụ. Không gian mỗi Phật tánh thì đồng nhất với không gian Vũ Trụ.
Không gian của mỗi Phật tánh bao trùm và tột cùng mọi tồn tại, nên Phật tánh thấy biết mọi tồn tại.
Mỗi Phật tánh thông suốt xuyên thấu qua mọi Phật tánh khác và mọi tồn tại.
Mỗi Phật tánh không sáp nhập với Phật tánh khác, không bị sáp nhập bỡi Phật tánh khác hay bất cứ thứ gì.
CHÂN NHƯ: là sự chân thật rằng vũ trụ là một thể xuyên suốt đều là chân không, vị trí nào trong vũ trụ cũng đều là chân không, không có thứ chi khác.
NIẾT BÀN: là cảnh giới sau khi đã xả bỏ thân vật chất, tự tại với Phật tánh.
HƯ KHÔNG: một trường tương tục chân không trùm khắp vũ trụ, đâu đâu cũng là chân không.
KHÔNG VÀ TÁNH KHÔNG: mọi sự vật hiện tượng đều được cấu tạo bỡi bản thể vật chất, chất liệu của bản thể vật chất là chân không nên mọi sự vật đều là chân không, không có thứ chi khác hay còn gọi là KHÔNG. Bản thể vật chất có các đặc tính: có bề mặt, có hình dạng, có vị trí, có thể tích. Nhưng không thể xác định được các đặc tính của nó, nên mọi sự vật hiện tượng khỡi ra từ chúng thiếu vắng các đặc tính xác định. Tánh thiếu vắng các đặc tính xác định còn được gọi là TÁNH KHÔNG hoặc KHÔNG.
MƯỜI PHƯƠNG HƯ KHÔNG HAY HƯ KHÔNG TRÙM KHẮP GIÁP CẢ MƯỜI PHƯƠNG: một trường chân không tương tục trùm khắp cả vũ trụ, vị trí nào cũng là chân không, không chừa cho có chỗ trống không.
TRÙM KHẮP HƯ KHÔNG: một sự tương tục, không gián đoạn, xuyên thấu, xuyên suốt, bao trùm tột cùng, không thiếu sót ở vị trí nào.
Xin Sư Phụ chỉ dạy cho con.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam mô Sư Phụ!

Pháp Không Chân Như:
Chân Như Tuệ Không đã trình bày sự hiểu về các từ và cụm từ:
- Phật tánh.
- Chân Như.
- Niết Bàn.
- Hư Không.
- Không và Tánh Không.
- Mười phương hư không hay hư không trùm khắp giáp cả mười phương.
- Trùm khắp hư không.
Thì ngoài sự trình bày về không và tánh không, các từ và cụm từ còn lại đều hiểu đúng ý tôi.
Về Không và Tánh không, Chân Như Tuệ Không có đoạn rằng: "mọi sự vật hiện tượng đều được cấu tạo bỡi bản thể vật chất" là không đúng.
Tôi chưa bao giờ nói rằng mọi sự vật hiện tượng đều được cấu tạo bỡi bản thể vật chất. Vì nói như vậy là không đúng. Nếu nói rằng mọi sự vật hiện tượng đều có nguồn gốc từ bản thể vật chất là đúng. Vì sao vậy? Ví như ánh sáng là một hiện tượng nhưng nó không có cấu trúc nội tại, và nó cũng không được cấu tạo bằng chân không. Ánh sáng là do sự lan truyền sự thay đổi cường độ chân không mà có. Nó không phải là một vật hay một bản thể nên không thể nói rằng nó có cấu trúc, có chất liệu. Cho nên khi nói mọi sự vật hiện tượng đều được cấu tạo bỡi bản thể vật chất là không đúng. Mọi sự vật hiện tượng đều có nguồn gốc rốt ráo của nó là bản thể vật chất, nhưng không có nghĩa là thứ gì cũng có cấu trúc, có chất liệu cấu tạo.
Cũng như khi tôi nói mọi sự vật hiện tượng đều có nguồn gốc từ bản thể vật chất, cũng không có nghĩa rằng mọi sự vật hiện tượng đều không có nguồn gốc từ thứ khác ngoài bản thể vật chất. Ví như tâm tư tình cảm của chư vị, nó là những hiện tượng, nó có nguồn gốc từ bản thể vật chất nhưng nếu nó không có nguồn gốc từ chân tâm của chư vị thì chẳng khác gì ta nói rằng vật chất có tình ư.
Cho nên, từng câu nói, chúng ta phải xem xét phạm vi chi phối của nó và chúng ta cần phải hiểu nó đúng theo phạm vi đó. Như câu nói mọi sự vật hiện tượng đều có nguồn gốc từ bản thể vật chất, phạm vi câu nói này bao gồm nguồn gốc bản thể vật chất nhưng không giới hạn không có nguồn gốc khác, cũng không giới hạn rằng sự vật hiện tượng có cấu trúc hay không cấu trúc, có chất liệu nội tại hay không có chất liệu nội tại.

Chân Như Tuệ Không: 
Nam mô Phật! Con cảm ơn Sư Phụ đã giảng rõ cho con ở chỗ "mọi sự vật hiện tượng đều được cấu tạo bỡi bản thể vật chất". Con đã giải tỏa được thắc mắc của con!
Nam mô Sư Phụ.

Tam Chan: 
Bạch Thầy, con xin trình bày cái hiểu của con với câu hỏi ở phần bình luận phía trên: "Trước khi giãn nở, bản thể vật chất chừng ấy kích thước, chừng ấy chân không. Sau khi giãn nở thì nó lớn hơn nhưng cũng chừng ấy chân không. Vậy sau khi giãn nở lẽ ra bên trong nó, chân không bị đứt, bị tách, bị gián đoạn nhưng chân không trong nó lại không bị đứt, không bị tách, không bị gián đoạn, nó vẫn tương tục là vì nguyên nhân gì?":
Sau khi giãn nở, chân không trong bản thể vật chất lại không bị đứt, không bị tách, không bị gián đoạn, nó vẫn tương tục vì thuộc tính của chân không là luôn trưởng nở về mọi hướng. Chân không là chất liệu có mặt tại mọi vị trí của bản thể vật chất, khi bản thể vật chất giãn nở thì đồng thời mật độ chân không bị giảm, lượng chân không không thay đổi, nhưng thể dạng của lượng chân không này đồng thời luôn trương nở về mọi hướng tạo thành trường tương tục của bản thể vật chất trong thể dạng mới. 
Có gì sai sót mong Thầy chỉ dạy giúp con.

Pháp Không Chân Như: 
Đúng vậy Tam Chan.

Nguồn: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1671549949734634&set=p.1671549949734634&type=3

Không có nhận xét nào: