Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2026

PHẬT BIẾT RÕ BẢN TÁNH CỦA BẢN THỂ VẬT CHẤT (5)

Bản tánh của bản thể vật chất là những thuộc tánh cố hữu luôn tồn tại cùng với bản thể vật chất. Theo quan điểm được trình bày trong pháp thoại này, bản tánh của bản thể vật chất là nhân, là duyên sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong Vũ Trụ mà chúng sinh thấy biết, kể cả những nhận thức chưa chân thật của chúng sinh.
Bản tánh của bản thể vật chất được chia thành ba loại: tánh phân tranh thể tích riêng, tánh phân bố có tâm và tánh cân bằng. Ba bản tánh này xảy ra đồng thời, không trước, không sau.
I. BẢN TÁNH THỨ NHẤT: TÁNH PHÂN TRANH THỂ TÍCH RIÊNG
1. Bản thể vật chất có thể tích riêng
Mỗi bản thể vật chất đều có bề mặt giới hạn. Có bản thể chỉ có một bề mặt ngoài, bên trong không chứa bản thể nào khác. Có bản thể vừa có bề mặt ngoài, vừa có một hoặc nhiều bề mặt trong. Bề mặt trong là nơi tiếp xúc với bề mặt ngoài của những bản thể khác nằm bên trong nó.
Các bề mặt này giới hạn một thể tích riêng của bản thể vật chất. Theo cách diễn giải của pháp thoại, không gian trên các bề mặt và bên trong thể tích được giới hạn ấy thuộc sở hữu riêng của bản thể đó, không thuộc sở hữu của bản thể khác. Không gian nằm trên các bề mặt và trong thể tích riêng ấy được gọi là trường nội tại của bản thể.
Có thể hình dung điều này qua ví dụ một viên bi sắt nằm bên trong một quả cầu thủy tinh. Quả cầu thủy tinh có bề mặt ngoài và bề mặt trong. Bề mặt trong tiếp xúc với bề mặt ngoài của viên bi sắt. Phần thủy tinh nằm giữa hai bề mặt giới hạn là chất liệu thuộc về quả cầu thủy tinh, tạo thành trường nội tại của nó.
Xét theo cách gọi thông thường, không gian và thể tích được phân biệt để thuận tiện cho việc diễn đạt. Thể tích biểu thị kích thước của không gian, chứ không phải là một giá trị đồng nhất với kích thước ấy. Tuy nhiên, theo quan niệm được trình bày ở đây, xét về bản chất thì không gian và chất liệu vật chất được xem là một. Vì vậy, khi khó hiểu khái niệm không gian, có thể tạm dùng khái niệm chất liệu vật chất để diễn giải, sau đó trở lại cách gọi chung theo hệ thống thuật ngữ của pháp thoại.
Mỗi bản thể vật chất chiếm giữ độc lập một vùng thể tích trong Vũ Trụ. Trong vùng thể tích được giới hạn bởi các bề mặt của nó, không có phần thể tích nào thuộc sở hữu của một bản thể khác. Điều này cũng được áp dụng đối với các vị trí trên những bề mặt giới hạn.
Có thể so sánh với các quốc gia trên Trái Đất: mỗi quốc gia có lãnh thổ, ranh giới và vị trí xác định, thể hiện chủ quyền riêng của mình. Tương tự, mỗi bản thể vật chất có một vùng thể tích riêng biệt.
Theo quan niệm của pháp thoại, tất cả các bản thể vật chất cùng tạo thành một trường không gian liên tục của Vũ Trụ. Không tồn tại vị trí nào hoàn toàn không có giá trị không gian thuộc về một bản thể nào đó. Tại mỗi vị trí, giá trị không gian thuộc về bản thể này thì không thuộc về bản thể khác.
Giá trị không gian tại một vị trí được gọi là cường độ không gian hoặc mật độ không gian. Vì vậy, mọi vị trí thuộc về một bản thể, dù nằm trên bề mặt hay bên trong thể tích của nó, đều có mật độ không gian theo cách hiểu của pháp thoại.
2. Bản thể vật chất có xu hướng giãn nở và tranh giành thể tích
Bản thể vật chất không chỉ có thể tích riêng mà còn có xu hướng giãn nở ra mọi hướng. Theo pháp thoại, chính xu hướng này tạo nên tánh tranh giành thể tích: mỗi bản thể có thể lấn chiếm thể tích của bản thể khác, đồng thời cũng có thể bị bản thể khác lấn chiếm và làm co lại.
Sự lấn chiếm được giải thích là xảy ra khi mật độ không gian tại một vị trí trên bề mặt của bản thể này cao hơn mật độ không gian tại vị trí tiếp xúc tương ứng trên bề mặt bản thể khác. Quá trình tranh giành tiếp diễn cho đến khi mật độ không gian tại hai vị trí tiếp xúc cân bằng với nhau.
Để dễ hình dung, có thể liên hệ với hai quốc gia láng giềng có chung đường biên giới. Nếu một bên có sức mạnh lớn hơn bên kia, bên đó có thể lấn chiếm lãnh thổ của bên còn lại. Sự tranh giành được hình dung là tiếp diễn cho đến khi sức mạnh của hai bên cân bằng.
Tuy nhiên, nếu một quốc gia phải tập trung lực lượng ở một phía biên giới, những phía khác có thể trở nên yếu hơn và dễ bị các quốc gia láng giềng lấn chiếm. Theo phép so sánh này, khi một bản thể lấn chiếm thể tích của bản thể khác ở một vị trí, bản thân nó cũng có thể bị những bản thể xung quanh lấn chiếm ở các vị trí khác.
Vì vậy, theo lập luận của pháp thoại, sự tranh giành thể tích luôn diễn ra giữa các bản thể vật chất. Không có bản thể nào hoàn toàn đứng ngoài quá trình ấy. Sự tranh giành không bao giờ chấm dứt, bởi các bản thể luôn tác động qua lại với nhau.
3. Cường độ không gian và mật độ không gian
Cường độ không gian được dùng để chỉ giá trị không gian tại một vị trí. Mật độ không gian cũng chỉ cường độ tại một vị trí, đồng thời có thể được dùng để phản ánh sự phân bố cường độ trong một vùng không gian hoặc cường độ trung bình của vùng ấy.
Theo cách giải thích của pháp thoại, điểm là khái niệm dùng để biểu thị một phần không gian có kích thước rất nhỏ. Tuy nhiên, ngôn ngữ và phương tiện đo lường hiện nay chưa thể diễn đạt chính xác tuyệt đối bản chất của giá trị vật chất tại một điểm.
Một điểm, dù được xem là rất nhỏ, vẫn có thể được hình dung là chứa những phần nhỏ hơn. Những phần nhỏ hơn ấy lại có thể tiếp tục được chia thành các phần nhỏ hơn nữa. Quá trình phân chia về mặt khái niệm có thể tiếp diễn không có điểm dừng. Vì vậy, không thể dựa vào các phép đo và phép tính thông thường để xác định đến tận cùng tổng giá trị của mọi phần nhỏ bên trong một điểm.
Do đó, pháp thoại đề xuất xem giá trị vật chất tại một vị trí hay một điểm là giá trị cơ sở. Theo cách diễn giải này, giá trị vật chất tại điểm cũng được xem là mật độ vật chất trung bình của điểm đó.
Từ đó, pháp thoại xem cường độ không gian và mật độ không gian là một. Cường độ không gian tại một điểm cũng chính là mật độ không gian trung bình của điểm ấy. Một vùng không gian lớn, chẳng hạn Trái Đất, cũng có thể được xem như một điểm trong một hệ quy chiếu diễn giải nhất định; khi đó, cường độ tại điểm được xét tương ứng với mật độ trung bình của vùng không gian ấy.
Việc xác định cường độ không gian được cho là có thể thực hiện thông qua phép đo lực tương tác. Tuy nhiên, pháp thoại cũng nêu rõ rằng không có phép đo nào cho giá trị đúng tuyệt đối.
Theo quan điểm của Pháp Không Chân Như, mọi vị trí trong Vũ Trụ đều có xu hướng giãn nở ra mọi hướng. Con người có thể nhận diện xu hướng này thông qua những biểu hiện tương tác và xem giá trị đo được là giá trị vật chất tại vị trí đang xét.
Pháp thoại tiếp tục đưa ra luận điểm rằng những lực tương tác mà khoa học hiện nay phân loại, như lực hạt nhân mạnh, lực hạt nhân yếu, lực điện từ và lực hấp dẫn, thực chất chỉ là những biểu hiện khác nhau của một bản chất duy nhất: sức giãn nở của không gian, hay cường độ không gian. Theo quan điểm này, cường độ không gian là nền tảng của mọi loại lực, đồng thời là nguyên nhân và kết quả của các tương tác, chuyển động và hiện tượng trong Vũ Trụ.
Đây là những luận điểm do pháp thoại tuyên bố và triển khai trong hệ thống lý giải riêng của mình.
Các nội dung về cường độ không gian, mật độ không gian và lực tương tác cần được tiếp tục quán xét trong mối liên hệ với hai bản tánh còn lại. Bởi theo pháp thoại, cả ba bản tánh của bản thể vật chất luôn xảy ra đồng thời, không thể tách rời nhau để hiểu đầy đủ bản thể vật chất.
II. BẢN TÁNH THỨ HAI: TÁNH PHÂN BỐ CÓ TÂM
Bản tánh thứ hai của bản thể vật chất là tánh phân bố có tâm. Theo pháp thoại, trong mỗi bản thể vật chất luôn tồn tại một điểm có cường độ chân không lớn nhất so với những điểm khác thuộc bản thể ấy. Điểm này được gọi là tâm của bản thể. Càng xa tâm, cường độ chân không tại các điểm thuộc bản thể càng giảm.
Sự phân bố chân không này có thể được hình dung tương tự sự phân bố ánh sáng của một ngọn đèn. Tại tâm ngọn đèn, cường độ ánh sáng mạnh nhất; càng ra xa tâm, cường độ ánh sáng càng giảm. Tương tự, theo cách diễn giải của pháp thoại, chân không trong bản thể vật chất được phân bố theo một phương thức nhất định.
Phương thức ấy được mô tả qua hai đặc điểm. Thứ nhất, mọi điểm nằm trên cùng một mặt cầu thuộc bản thể vật chất, với tâm mặt cầu trùng với tâm của bản thể, đều có cường độ chân không bằng nhau. Thứ hai, mọi mặt cầu khép kín thuộc bản thể vật chất và đồng tâm với tâm bản thể đều có giá trị chân không bằng nhau theo cách trình bày của pháp thoại. Đối với những mặt cầu chỉ có một phần nằm trong bản thể, có thể giả định cường độ chân không tại các điểm còn lại bằng cường độ tại một điểm thuộc phần mặt cầu nằm trong bản thể để thực hiện phép tính tương ứng.
Từ cách phân bố này, pháp thoại nêu công thức xác định cường độ chân không tại một điểm thuộc bản thể, cách tâm bản thể một khoảng cách r là I(r) = m/(4Pi.R.r^2). Trong đó, Rg = căn bậc ba của (3V/4π), m và V lần lượt là khối lượng và thể tích của bản thể.
Theo pháp thoại, người đã học toán tích phân có thể dựa vào cách phân bố được mô tả để thiết lập công thức xác định cường độ chân không tại một điểm thuộc bản thể vật chất.
III. BẢN TÁNH THỨ BA: TÁNH CÂN BẰNG
Bản tánh thứ ba của bản thể vật chất là tánh cân bằng. Mỗi hình dạng đều có một trọng tâm. Bản thể vật chất cũng có trọng tâm vì hình dạng của nó được giới hạn bởi các bề mặt. Theo pháp thoại, tâm của bản thể luôn có khuynh hướng di chuyển về phía trọng tâm của bản thể ấy. Khuynh hướng đưa tâm về trọng tâm được gọi là tánh cân bằng.
Như vậy, ba bản tánh của bản thể vật chất gồm tánh phân tranh thể tích riêng, tánh phân bố có tâm và tánh cân bằng. Theo quan điểm được trình bày, cả ba đều là những thuộc tánh hoàn hảo và xảy ra đồng thời.
Ba bản tánh này luôn hướng đến trạng thái cân bằng, ổn định. Tuy nhiên, chính vì các bản thể liên tục giãn nở, tương tác và phân bố lại cường độ chân không nên trạng thái cân bằng, ổn định tuyệt đối không bao giờ đạt được, dù trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn.
Pháp thoại lý giải quá trình này bắt đầu từ sự giãn nở của bản thể chủ Vũ Trụ. Vì bản thể chủ Vũ Trụ luôn giãn nở nên thể tích của nó tăng lên, kéo theo cường độ không gian tại các vị trí bên trong luôn thay đổi. Sự thay đổi ấy còn gắn với tánh phân bố có tâm và tánh cân bằng, khiến cường độ chân không bên trong bản thể liên tục được phân bố lại.
Khi cường độ tại các vị trí thuộc bản thể chủ Vũ Trụ thay đổi, cường độ tại những vị trí tiếp xúc với các bản thể khác cũng thay đổi theo. Do tánh phân tranh thể tích, những thay đổi tại bề mặt của một bản thể tiếp tục ảnh hưởng đến sự phân bố cường độ bên trong bản thể ấy. Tánh phân bố có tâm và tánh cân bằng lại khiến cường độ bên trong tiếp tục điều chỉnh.
Quá trình này cứ thế lan truyền từ vị trí này sang vị trí khác, từ bản thể này sang bản thể khác. Vì vậy, theo lập luận của pháp thoại, cường độ tại mọi điểm trong Vũ Trụ luôn biến đổi; hình dạng, thể tích, vị trí tâm và vị trí trọng tâm của các bản thể cũng không ngừng thay đổi. Sự thay đổi diễn ra liên tục, không có khoảng thời gian gián đoạn.
Từ đó, pháp thoại liên hệ với tính vô thường của các pháp hữu vi: mọi sự vật, hiện tượng do kết hợp mà thành đều biến đổi, kết hợp rồi tan rã. Trái lại, pháp vô vi được trình bày là thường hằng, với ý nghĩa không tan rã.
Theo cách lý giải của Pháp Không Chân Như, pháp vô vi chính là Vũ Trụ, là chân như. Sự kết hợp này không bao giờ tan rã vì không có một nơi nào nằm ngoài nó để trở thành chỗ cho nó tan rã.
KẾT LUẬN
Phẩm thứ năm trình bày ba bản tánh của bản thể vật chất theo hệ thống tư tưởng của Pháp Không Chân Như: 
- Tánh phân tranh thể tích riêng: Mỗi bản thể có vùng thể tích riêng và luôn có xu hướng giãn nở, tác động qua lại với những bản thể khác;
- Tánh phân bố có tâm: Cường độ chân không được cho là phân bố quanh một tâm của bản thể theo một phương thức nhất định;
- Tánh cân bằng: Tâm của bản thể có khuynh hướng di chuyển về trọng tâm của bản thể.
Ba bản tánh này được xem là đồng thời vận hành, liên tục tác động lẫn nhau, khiến các bản thể vật chất và toàn thể Vũ Trụ luôn biến đổi. Từ đó, pháp thoại đi đến nhận định rằng các pháp hữu vi luôn vô thường, còn pháp vô vi được xem là thường hằng, không tan rã.
Đó là nội dung cốt lõi của phẩm thứ năm về bản tánh của bản thể vật chất theo quan điểm được trình bày trong pháp thoại.
Hoàng Lạc (tóm lược Pháp thoại)

Không có nhận xét nào: