Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

PHẬT BIẾT RÕ BẢN THỂ HỮU TÌNH THÌ NHƯ THẾ NÀO? (4)

Sau khi tìm hiểu về “Phật - A Di Đà - Căn Bổn Bí Mật Tạng”, vấn đề tiếp theo cần làm rõ là thể tánh của Như Lai, hay nói cách khác là bản thể của Như Lai và Phật tánh nơi mỗi chúng sinh.
Thể tánh của Như Lai được gọi là “căn bổn bí mật tạng” bởi chúng sinh không thể nhận biết bằng mắt, không thể nghe bằng tai, không thể ngửi bằng mũi, không thể nếm bằng lưỡi, không thể cảm nhận bằng thân và cũng không thể biết bằng ý. Thể tánh của Như Lai chẳng phải sắc, chẳng phải thanh, chẳng phải hương, chẳng phải vị, chẳng phải xúc và cũng chẳng phải pháp theo cách nhận biết thông thường của chúng sinh. Vì không thể được nhận biết bằng sáu căn nên thể tánh của Như Lai luôn là một kho tàng bí mật đối với chúng sinh.
Mọi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều không thể so sánh đồng đẳng với thể tánh của Như Lai. Không có gì có thể được dùng làm một ví dụ hoàn toàn tương đồng với thể tánh ấy. Tuy nhiên, vì thương tưởng và muốn phổ độ chúng sinh, chư Phật, Bồ tát phải dùng những hiện tượng mà chúng sinh có thể nhận biết để làm phương tiện diễn đạt về thật tướng. Lấy hiện tượng để làm ví dụ cho thật tướng, lấy loại vô tình để làm ví dụ cho loại hữu tình, lấy sắc để ví dụ cho thứ chẳng phải sắc, lấy thanh để ví dụ cho thứ chẳng phải thanh; cho đến hương, vị, xúc và pháp cũng đều như vậy.
Những ví dụ ấy không phải là chính thể tánh của Như Lai. Chúng chỉ giúp chúng sinh có được một sự hiểu biết nhất định về tự tánh chân thật của mọi tồn tại, từ đó làm cơ sở để tự khai thông trí huệ và đạt được cái biết vô ngại.
Có thể hình dung điều này qua ví dụ về rau sam. Một người bị bệnh tiểu ra máu nhưng chưa từng biết rau sam là loại rau như thế nào, có hình dáng ra sao, mùi vị thế nào và mọc ở đâu. Tại nơi người bệnh sinh sống lại không có rau sam. Vị lương y muốn giúp người bệnh tìm được loại thuốc này nên phải dùng những cây khác, lá khác, hương vị và đặc điểm mà người bệnh đã biết để mô tả, đồng thời chỉ dẫn phương hướng và nơi rau sam có thể mọc.
Những thứ được dùng làm ví dụ không phải là rau sam, cũng chẳng đồng như rau sam. Nhưng nhờ những ví dụ ấy, người bệnh có được một sự hiểu biết nhất định về rau sam, biết phương hướng và nơi có thể tìm kiếm. Sau đó, bằng nỗ lực của chính mình, người bệnh tìm được rau sam và trực tiếp nhận biết rõ ràng về nó. Chư Phật, Bồ tát cũng như vậy. Vì muốn phổ độ chúng sinh nên sử dụng pháp thế gian để diễn đạt về tự tánh chân thật của mọi tồn tại. Nhưng pháp thế gian không thể đồng nhất với tự tánh chân thật của mọi tồn tại.
Từ đó cần đặc biệt lưu ý đến vấn đề pháp phù hợp với từng căn cơ. Rau sam có thể có tác dụng điều trị bệnh tiểu ra máu trong một số trường hợp, nhưng lại có thể trở thành độc đối với người đang mang thai, người tỳ vị hư hàn hoặc người bị tiêu chảy. Vì vậy, một thứ thuốc có thể phù hợp với người này nhưng không phù hợp với người khác. Giáo pháp cũng như vậy. Không phải bất cứ giáo pháp nào của chư Phật, Bồ tát cũng có thể áp dụng chung cho tất cả chúng sinh. Tùy theo công đức tu tập đã tích tụ mà mỗi người cần lựa chọn giáo pháp phù hợp với chính mình. Chẳng hạn, hành giả chưa tu trì giáo pháp về vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh thì chẳng nên vội tu trì giáo pháp về thường, lạc, ngã, tịnh. Cần đi từng bước, phù hợp với trình độ và căn cơ của chính mình.
Trong thời đại công nghệ thông tin, một bài thuyết pháp có thể được truyền đến rất nhiều người cùng lúc. Điều này tạo ra một vấn đề mới: một giáo pháp vốn được nói cho người có nhiều công đức có thể đồng thời được nghe bởi những người có ít công đức hoặc chưa có đủ điều kiện tiếp nhận. Người thuyết pháp không thể kiểm soát được tất cả những ai nghe bài pháp qua công nghệ. Vì vậy, người học pháp càng phải có khả năng tự lựa chọn giáo pháp phù hợp với mình, không nên đốt cháy giai đoạn tu trì.
Khi nói về thể tánh của Như Lai, cũng chính là nói về Phật tánh của mỗi chúng sinh. Mỗi chúng sinh đều có vị Phật của chính mình. Vị Phật ấy chính là Phật tánh của chính mình. Thể tánh của Như Lai và Phật tánh của chúng sinh không phải là hai loại khác nhau. Có thể hình dung điều này qua ví dụ nước nguyên chất và nước muối. Nước nguyên chất được dùng để dụ cho thể tánh của Như Lai. Nước trong nước muối được dùng để dụ cho Phật tánh của mỗi chúng sinh. Nước muối được dùng để dụ cho chúng sinh. Nước muối có vị mặn bởi trong đó có muối. Vị mặn là vị của muối chứ không phải vị của nước. Nước trong nước muối vẫn là nước nguyên chất; bản thân nước không có muối và không có vị mặn. Nếu chưng cất nước muối, loại bỏ muối thì sẽ thu được nước nguyên chất. Nước nguyên chất thu được và phần nước vốn có trong nước muối không có sự sai khác về bản chất. Nước không làm thay đổi muối và muối cũng không làm thay đổi bản chất của nước. Nước và muối là hai tồn tại độc lập, nhưng vì muối nương vào nước nên hỗn hợp ấy được gọi là nước muối.
Cũng như vậy, Phật tánh của mỗi chúng sinh không có sự sai khác nào với thể tánh của Như Lai. Khi chúng sinh thành Phật, Phật tánh ấy không trở thành một thứ khác mà hiển lộ đúng như thể tánh của Như Lai.
Thể tánh của mỗi Như Lai
Thể tánh của mỗi Như Lai là một tồn tại độc lập, được sở hữu bởi chính Như Lai đó. Thể tánh ấy sở hữu một loại chất liệu duy nhất và sở hữu độc lập một lượng chất liệu xác định. Quang minh của Như Lai là chất liệu của Như Lai; chất liệu của Như Lai là quang minh của Như Lai. Lượng quang minh của Như Lai là lượng chất liệu của Như Lai; lượng chất liệu của Như Lai là lượng quang minh của Như Lai.
Thể tánh của Như Lai không có cấu trúc nội tại theo nghĩa thông thường, mà là một trường quang minh tương tục. Nó không bị bất cứ thứ gì phân chia và cũng không tự phân chia. Không tự không còn tồn tại và không bị bất cứ thứ gì làm cho không còn tồn tại. Không bị bất cứ thứ gì sinh ra và không tự sinh ra. Không tự biến đổi quang minh của Như Lai và không bị bất cứ thứ gì làm cho quang minh của Như Lai biến đổi. Không tự thay đổi lượng quang minh của Như Lai và không bị bất cứ thứ gì làm cho lượng quang minh của Như Lai thay đổi. Không tự sáp nhập với bất cứ thứ gì để không còn là chính Như Lai đó và không bị bất cứ thứ gì sáp nhập để không còn là chính Như Lai đó. 
Thể tánh của mỗi Như Lai trùm khắp vũ trụ. Quang minh của mỗi Như Lai có mặt ở khắp tất cả mọi nơi trong vũ trụ. Ở đây cần phân biệt rõ giữa quang minh và thể tánh của Như Lai. Quang minh là danh từ biểu thị nội dung, tài sản và trường nội tại của Như Lai. Thể tánh của Như Lai là danh từ biểu thị hình thức của Như Lai. Có thể dùng ví dụ quả cầu thủy tinh. Quả cầu thủy tinh là danh từ biểu thị hình thức của một quả cầu làm bằng thủy tinh; còn thủy tinh là danh từ biểu thị chất liệu, nội dung, tài sản và trường nội tại của quả cầu ấy. 
Tuy nhiên, danh từ “quang minh” trong cách sử dụng này không đồng nghĩa với các khái niệm như vật chất, phản vật chất, phi vật chất, vật chất tối, năng lượng, năng lượng tối, chất hóa học, nguyên liệu, vật liệu, hạt vật chất, linh hồn, ánh sáng hay bức xạ.
Thân kim cang bất hoại
Trong giáo pháp được trình bày, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từng nhắc đến thân kim cang bất hoại. Thân kim cang bất hoại được phân thành hai loại. Một là thể tánh của Như Lai. Hai là bản thể của vật chất, tức hạt vật chất cội gốc, thể dạng gốc rốt ráo của vạn vật. Bản thể vật chất thì bất hoại. Chúng sinh nương trụ ở bản thể vật chất thì có thân kim cang bất hoại. 
Trong phạm vi bài viết này không đi sâu vào bản thể vật chất, mà chỉ tập trung vào thể tánh của Như Lai. Thể tánh của Như Lai là thân kim cang bất hoại. “Kim cang” ở đây được dùng để diễn đạt cho chất liệu của Như Lai, tức quang minh của Như Lai. Có thể dùng hình ảnh một quả cầu thủy tinh trong suốt để minh họa. Bên trong quả cầu thủy tinh có một thanh kiếm được làm bằng chất liệu cho phép ánh sáng xuyên qua. Khi đặt quả cầu ngoài trời đang có nắng, ánh sáng sẽ hiện diện ở khắp mọi vị trí trong quả cầu, kể cả những vị trí bên trong thanh kiếm. Quả cầu thủy tinh dụ cho vũ trụ. Những hạt thủy tinh và thanh kiếm dụ cho vạn vật trong vũ trụ. Ánh sáng trong quả cầu dụ cho quang minh của Như Lai. Toàn thể ánh sáng trong quả cầu dụ cho thể tánh của Như Lai.
Ánh sáng có mặt ở khắp mọi vị trí trong quả cầu, kể cả bên trong thanh kiếm. Cũng như vậy, quang minh của Như Lai được trình bày là có mặt ở khắp mọi vị trí trong vũ trụ, kể cả mọi vị trí bên trong mọi vật. Toàn thể ánh sáng trùm khắp quả cầu cũng như thể tánh của Như Lai trùm khắp vũ trụ.
Một ví dụ khác là bức xạ điện từ. Có thể tạm xem toàn thể bức xạ điện từ trong vũ trụ như một thực thể thống nhất. Thể bức xạ điện từ được dùng để dụ cho thể tánh của Như Lai; bức xạ điện từ được dùng để dụ cho quang minh của Như Lai. Bức xạ điện từ được hình dung là có mặt ở khắp tất cả vị trí trong vũ trụ, kể cả mọi vị trí trong mọi vật. Tương tự, quang minh của Như Lai được trình bày là có mặt ở khắp tất cả vị trí trong vũ trụ, kể cả mọi vị trí bên trong mọi vật.
Thể bức xạ điện từ trùm khắp vũ trụ cũng như thể tánh của Như Lai trùm khắp vũ trụ. Có thể tiếp tục hình dung bằng ví dụ một nồi canh đang sôi. Nước và mọi thứ được nấu trong nồi đều nóng ở mọi vị trí. Nhiệt có mặt khắp mọi nơi trong nồi, kể cả trong nước và trong mọi thứ thực phẩm. Nồi canh dụ cho vũ trụ. Nước và thực phẩm dụ cho vạn vật trong vũ trụ. Toàn thể nhiệt trong nồi được tạm xem như một thể thống nhất. Thể nhiệt dụ cho thể tánh của Như Lai, còn nhiệt dụ cho quang minh của Như Lai. Nhiệt trùm khắp nồi canh cũng như thể tánh của Như Lai trùm khắp vũ trụ. Nhiệt có mặt ở khắp mọi vị trí trong nồi cũng như quang minh của Như Lai được trình bày là có mặt ở khắp mọi vị trí trong vũ trụ, kể cả mọi vị trí trong vạn vật.
Thể tánh Như Lai không bị hư hoại
Có thể hình dung một hiệp sĩ đang múa kiếm trong không gian. Đường kiếm lướt qua không gian cũng là đường kiếm lướt trong thể tánh của Như Lai. Nhưng Như Lai không bị đứt, không bị đau và không bị tổn thương. Như Lai không bị thanh kiếm làm hư hoại bất cứ nơi nào trong thể tánh của mình. Lý do là quang minh của Như Lai được trình bày là có mặt ở khắp mọi vị trí trong vũ trụ, kể cả mọi vị trí bên trong thanh kiếm và trên bề mặt thanh kiếm. Quang minh ấy là một trường tương tục nên chẳng thể bị tách, chẳng thể bị chia và chẳng thể bị đứt.
Đường kiếm lướt trong thể tánh của Như Lai cũng giống như dùng một thanh kiếm thủy tinh chém vào ánh sáng: ánh sáng không bị đứt quãng và không bị chia cắt. Vì vậy, thể tánh của Như Lai được gọi là bất khả tư nghị. Không thể đem cái biết của chúng sinh về sự vật, hiện tượng để so sánh, đối chiếu rồi cho rằng tánh bất hoại của Như Lai cũng giống như những vật thể mà chúng sinh thường nhận biết. Không có thứ gì trong vũ trụ có thể làm cho thể tánh của Như Lai bị hư hoại. Thể tánh của Như Lai là thân bất hoại.
Quang minh của tất cả Như Lai
Thể tánh của mọi Như Lai đều như vậy. Vì thế, tại mỗi vị trí trong vũ trụ đều có quang minh của tất cả Như Lai. Thể tánh của mỗi Như Lai trùm khắp vũ trụ. Mỗi vị trí trong vũ trụ có đầy đủ quang minh của tất cả Như Lai, nhưng các quang minh ấy chỉ tương ưng do tiếp xúc mà không sáp nhập. Quang minh của Như Lai là bất khả tư nghị. Không thể lấy cái biết về sự vật, hiện tượng của chúng sinh để so sánh, đối chiếu, rồi cho rằng các quang minh cũng chồng chất hoặc sáp nhập thành một.
Có thể hình dung bằng ví dụ nhiều ngọn đèn cùng phát sáng trong một căn phòng. Nếu tạm thời không xét đến tính tán sắc và sự chồng chất của ánh sáng, thì tại mỗi vị trí trong căn phòng đều có ánh sáng của tất cả các ngọn đèn. Tuy nhiên, ánh sáng của ngọn đèn nào vẫn là của ngọn đèn ấy, không sáp nhập thành một ngọn đèn duy nhất. Quang minh của Như Lai cũng được trình bày như vậy: tại mỗi vị trí đều có đầy đủ quang minh của tất cả Như Lai, nhưng quang minh của Như Lai nào vẫn là của Như Lai ấy, không sáp nhập thành một.
Quang minh của Như Lai và chúng sinh
Bất cứ vị trí nào bên trong thân thể hay bên ngoài thân thể của chúng sinh đều có đầy đủ quang minh của tất cả Như Lai. Theo giáo lý được trình bày ở đây, mọi suy nghĩ, tư tưởng, hành vi, hành động, việc làm và mọi cảm thọ của chúng sinh đều được tất cả Như Lai biết rõ ràng, đầy đủ, không thiếu sót, dù chúng sinh đang ngủ, nằm, ngồi, đứng, đi hay di chuyển nhanh chậm thế nào. 
Vì vậy, có thể dối người, dối thiên, gạt quỷ, nhưng không thể dối chính mình và không thể dối Như Lai. Tất cả hành thiện của chúng sinh đều được tất cả Như Lai biết đầy đủ. Tất cả hành ác cũng được biết đầy đủ. Những phiền não, đau khổ và bất hạnh của chúng sinh cũng được biết đầy đủ. Như Lai luôn thương tưởng chúng sinh, phổ độ chúng sinh và gia hộ chúng sinh.
Công đức của Như Lai được trình bày là không thể nghĩ bàn như vậy. Như Lai tự biết và tự có chỗ làm vì chúng sinh; không phải đợi chúng sinh nói, niệm thì Như Lai mới biết, cũng không phải đợi chúng sinh cầu thì Như Lai mới làm.
Trở về với chính Phật tánh của mình
Mục đích cuối cùng của sự tu trì là trở về với chính Phật tánh của mình. Có thể dùng lại hình ảnh chưng cất nước muối để diễn đạt điều này. Nước vốn là nước. Muối nương vào nước tạo thành nước muối. Khi loại bỏ muối, nước nguyên chất hiển lộ. Cũng vậy, Phật tánh nơi mỗi chúng sinh vốn không sai khác với thể tánh của Như Lai. Những gì che lấp, hòa trộn và khiến chúng sinh chưa sống được bằng chính Phật tánh của mình cần được tu trì và loại bỏ.
Con đường tu tập vì vậy là con đường trở về với chính mình, sống bằng chính Phật tánh của mình, an lạc và vĩnh hằng.
Hoàng Lạc (tóm lược bài pháp thoại)

Không có nhận xét nào: