Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

Chúng Ta Thoát Thai Từ đâu

Bằng phương pháp hình học nhãn khoa và phép logic khoa học, Erono Mundasep đã đưa ra giả thuyết con ngưới xuất hiện nhờ sự cô đặc của các dòng sóng mang thông tin, có năng lượng tâm linh. Và từ nhiều triệu năm trước, trên trái đất đã từng tồn tại bốn nền văn minh trước khi nền văn minh thứ năm của chúng ta phát nguyên từ Tibet (Tây Tạng) 18.000 năm về trước rồi theo bốn tuyến di cư tỏa ra khắp thế giới. Từ những đôi mắt được vẽ trên các đền đài Tây Tạng và Nepal, nhờ công nghệ thông tin, ông và các cộng sự dựng lại được hình ảnh của người có cặp mắt đó - một con người khác thường so với chủng tộc người của nền văn minh chúng ta, những người Limuri khổng lồ ép xác, có năng lượng tâm linh vô tận - mà những nhà phụng sự tôn giáo ở Tây Tạng và Nepal, Ấn Độ Kính cẩn gọi là “Ngài”.

"Chúng ta thoát thai từ đâu" là cuốn sách đầu tiên trong bộ 4 cuốn sách mang tính cách mạng của Erono Mundasep về vũ trụ - sự sống - loài người. Đặc biệt sự sống ở đây bao gồm cuộc sống tâm linh như thước đo cho sự tiến hóa của loài người. Trong phần đầu tiên này, Mundasep đưa ra và chứng minh các giả thuyết của Bậc Bí Truyền Vĩ Đại Helena Petrovna Blavatsky với nguồn thông tin và kiến thức khổng lồ trong cuốn "Học Thuyết Bí Ẩn" nổi tiếng của bà. Đây là tên bộ sách 4 cuốn của Munsasep, cuốn thứ 4 chưa xuất bản tại Việt Nam :

1.Chúng ta thoát thai từ đâu
2.Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân
3.Trong vòng tay Shambala
4. Ma trận của sự sống
________________________________________________________

Chúng Ta Thoát Thai Từ Đâu

GIỚI THIỆU TÁC GIẢ

Erono Mundasep là Tiến sĩ y học, Giáo sư, Giám đốc Trung tâm phẫu thuật mắt và tạo hình liên bang thuộc Bộ Y tế Nga, Thầy thuốc Công huân, nhà phẩu thuật thượng hạng, nhà tư vấn danh dự thuộc Đại học Luinsvin của Mỹ, Viện sĩ Viện hàn lâm Nhãn khoa của Mỹ, bằng bác sĩ nhãn khoa của Mehico, kiện tướng du lịch thể thao.

Erono MundasepErono Mundasep được coi là nhà bác học lớn trên trường quốc tế. Ông là người khai sáng phương hướng mới trong y học: phẩu thuật tái sinh hay phẫu thuật cấy ghép mô người. Ông là người đầu tiên trên thế giới tiến hành phẫu thuật cấy ghép mắt thành công. Những năm gần đây, ông bắt tay nghiên cứu các cơ sở của phẫu thuật tái sinh hàng loạt bộ phận cơ thể người.

Erono Mundasep đã nghiên cứu 90 loại phẫu thuật mới, sáng chế và đưa vào ứng dụng 60 loại nguyên liệu sinh học alloplant, đã có trên 300 công trình khoa học được đăng tải, đã nhận 36 bằng sáng chế của Nga và nhiều nước khác trên thế giới. Ông đã đi thỉnh giảng và phẫu thuật trên 40 nước. Hàng năm, ông thực hiện khoảng 600-800 ca phẫu thuật phức tạp nhất.

Bản thân nhà bác học cho đến nay vẫn thú nhận rằng, ông chưa hiểu thực chất của sáng chế chủ yếu của mình là nguyên liệu sinh học “alloplant” được chế tạo từ mô người chết, mang trong nó những cơ cấu tự nhiên cao sâu trong việc sáng tạo cơ thể con người. Vì thế, trong quá trình nghiên cứu ông không chỉ tiếp xúc với các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực như vật lý, sinh học phân tử v.v… mà còn tìm hiểu cơ sở của các tín ngưỡng tôn giáo và huyền học, nghiên cứu năng lượng tâm thần, cũng như những vấn đề liên quan đến nguồn gốc loài người và Vũ trụ.

Hình học nhãn khoa - Phương pháp mới trong nghiên cứu vấn đề nguồn gốc loài người..
Tóm lại, chúng tôi đã tìm được trong các đường nét chung về nguyên lý phục chế khuôn mặt dựa vào các đặc trưng hình học của mắt.

Sau này trên cơ sở số liệu của 1500 cá nhân, các nguyên lý tái tạo lại khuôn mặt dựa vào các đặc trưng hình học của hai hình tứ giác đã được xác định rõ thêm. Song không thể đạt được độ chính xác lớn hơn. Vì sao vậy ? Vấn đề là ở chỗ chúng tôi mới xác định được 22 đặc trưng hình học nhãn khoa trong khi các hình tứ giác nêu trên chỉ thể hiện được 2 trong số đó. Nhưng việc cùng một lúc phân tích tất cả 22 thông số quá phức tạp, chúng tôi đã không kham nổi.

Hơn nữa, tất cả 22 thông số đó thường xuyên thay đổi tùy thuộc vào xúc cảm, tâm trạng con người, bệnh tật và các yếu tố khác.

Các hạnh nhỏ dưới vỏ não của con người có sức tính toán lớn biết chừng nào khi xử lý các thông tin hình học nhãn khoa ! Bởi chúng phải có khả năng xử lý loại thông tin cực kỳ phức tạp đó trong nháy mắt và truyền vào vỏ đại não dưới dạng các hình ảnh, cảm giác và tình cảm khác, mặc dù kích thước các hạch não đó (gần 1 cm) không thể so sánh với kích thước một chiếc máy tính hiện đại. Chúa Trời thật vĩ đại. Người đã tạo ra bộ não hoàn chỉnh như một cỗ máy !

Còn chúng tôi chỉ xử lý về mặt toán học được 2 trong số 22 thông số hiện hữu ! Nhưng thành quả toán học nhỏ bé đó cũng đã cho phép chúng tôi khá vững tin mà nói rằng, các thông số hình học nhãn khoa của mỗi người mang tính cá thể nghiêm ngặt và là cái gì đó tựa như “vết bớt”. “Vết bớt” hình học nhãn khoa đó thường xuyên thay đổi, tuỳ thuộc vào cảm xúc và các yếu tố khác, song về đại thể vẫn giữ được tính chất cá thể bẩm sinh.

Đồng thời các thông số hình học nhãn khoa cá thể gắn liền với các đặc trưng hình học của đường nét khuôn mặt và thậm chí một vài bộ phận cơ thể. Bởi vậy, có thể tái tạo hình dạng người trong giới hạn phỏng chừng dựa trên các đặc trưng hình học của khu vực mắt. Chính vì thế, khi nhìn vào mắt người khác, ta biết nhiều điều hơn chứ không chỉ có đôi mắt. Và cuối cùng : hằng số duy nhất của cơ thể con người là đường kính giác mạc, nằm trong phạm vi sơ đồ hình học nhãn khoa như thể gợi ý với ta rằng, đó chính là đơn vị đo lường trong hình học nhãn khoa.

Đôi mắt phản ánh gần như tất cả những gì diễn ra trong cơ thể và trong não và có thể nhìn thấy cái “tất cả” đó dựa vào sự biến đổi của 22 (mà biết đâu lại nhiều hơn vậy) thông số của khu vực mắt. Tất nhiên, trong tương lai, hình học nhãn khoa sẽ được nghiên cứu đến nơi đến chốn và giải đáp được nhiều câu hỏi của y học và tâm lý học. Nói một cách có hình tượng thì hình học nhãn khoa là hình ảnh toán học của các tình cảm và cảm giác.

Ánh mắt hoạt động như tia quét xóa lượng thông tin ở khu vực mắt, nơi mà nhờ các chuyển động vô cùng nhỏ của mí mắt, lông mày, nhãn cầu và da, phản ánh tình cảm và cảm giác của chúng ta đồng thời nhận biết được cá tính mỗi con người. Chúng ta nhìn vào mắt nhau bởi đôi mắt cung cấp thêm thông tin cho ta về cá nhân con người và các biến đổi của nó do tác động của các tình cảm, cảm giác.

Các phương pháp ứng dụng hình học nhãn khoa.
Có thể phân ra các phương pháp ứng dụng thực tế của hình học nhãn khoa: đồng nhất cá thể (giống như vân tay người), tái tạo hình dáng người, xác định đặc điểm trí tuệ cá nhân, phân tích khách quan tình cảm và cảm giác con người, chuẩn đoán các bệnh tâm thần, xác định dân tộc và … nghiên cứu nguồn gốc loài người.

Chú thích: đường kính giác mạc dường như không hề thay đổi, dù là người Âu, người Á, dù già hay trẻ, thì kích thước đường kính không thay đổi. Có vẻ đó là 1 hằng số của nhân loại.
________________________________________________________________________

PHẦN 1 - LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI TRÊN TRÁI ĐẤT

Lịch sử loài người được phác hoạ sau đây có cơ sở từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau: sách Kinh, dẫn liệu của các Bậc được bí truyền, thông tin từ các latma và đạo sư…

Điều đáng chú ý trước tiên là con người đã xuất hiện nhờ sự cô đặc phần “hồn” dần dần. Cho đến nay, trên Trái đất đã tồn tại 5 chủng tộc (chúng ta thuộc chủng tộc thứ Năm), chủng tộc sau xuất hiện trong lòng chủng tộc trước và dần dần thay thế nhau.

Vũ trụ và sự phát sinh con người

Người cổ xưa cho rằng, vật chất phát sinh từ “khoảng không”. Nhà vật lý thiên tài Nga G. Sipop, người đã lập được phương trình mô tả vật lý Chân không (Tuyệt đối) mà bản thân Einstein không làm được, cũng đã ủng hộ ý tưởng như vậy. Mundasep và một số bạn ông cũng có đồng quan điểm này.

Cái Tuyệt đối không đơn thuần là hư không (không có gì), đó là khoảng không chứa Cái gì đó(1). Trước mắt khoa học chưa biết Cái gì đó. Theo G. Sipop, các nguyên tử và phản nguyên tử phát sinh từ Tuyệt đối. Chúng sinh ra, đụng độ nhau và tiêu huỷ nhau. Nhưng có một lần cách đây nhiều tỷ năm, các nguyên tử và phản nguyên tử sau khi được tạo thành trong không gian đã tản đi ngay, nên mỗi thứ vẫn tồn tại. Vật chất đã phát sinh từ Tuyệt đối là như vậy.

Vào thời gian đầu, tồn tại các trường xoắn siêu cao tần và các trường phản xoắn triệt tiêu lẫn nhau. Chúng cũng phát sinh từ Tuyệt đối. Nhưng đã xuất hiện một thời điểm, mà sau khi các trường xoắn và phàn xoắn được hình thành thì chúng đã tản đi mỗi thứ một nơi. Phần trường xoắn siêu cao tần đó tạo thành “thế giới vi tế” (thế giới phi vật lý hay thế giới tâm linh - BT).

Theo giả thuyết của G. Sipop, giữa các trường xoắn của thế giới vi tế và ý thức có mối liên hệ trực tiếp bởi các trường xoắn là những chất chứa dusa và dukhơ(2). Như vậy, từ Tuyệt đối đã phát sinh ra hai thế giới: thế giới vi tế và thế giới vật thể.

Thế giới vật thể phức tạp dần. Đã xuất hiện các sao, hành tinh, các hệ thiên hà v.v… Thế giới vi tế bao gồm các trường xoắn (vật chất siêu mịn và tinh tế) cũng phức tạp dần. Dần dần trong quá trình tiến hoá, trong thế giới vi tế đã xuất hiện các dukhơ là những khối năng lượng tinh tế kết đông dưới dạng các trường xoắn có khả năng bảo toàn vĩnh cửu trong mình một khối lượng thông tin to lớn. Những mối liên hệ thông tin đã được tạo ra giữa các dukhơ và dần dần đã tạo ra Không gian thông tin toàn thể. Có thể đây chính là Trung tâm điều hành sự sống, Cõi kia hay Chúa Trời như các tôn giáo đã nói tới.

Trong khi ở thế giới vi tế diễn ra quá trình hoàn thiện, giữ gìn và truyền tải thông tin thì tại thế giới vật thể tồn tại song song vẫn vô sinh và chưa có bản sắc. Thân thể người trong thế giới vật thể có thể đã được tạo ra bằng cách cô đặc phần dukhơ dần dần. Hình thái sự sống trong thế giới vi tế phải được hoàn thiện đến một mức nào đó mới có thể dùng năng lượng của thế giới đó tạo ra bộ gen và thân thể người. Không phải ngẫu nhiên mà người xưa nói rằng: ‘Con người là tiểu vũ trụ”.

Cùng với sự tạo ra con người, các dạng sự sống đơn giản hơn cũng được sinh ra ở thế giới vật thể: con vật, côn trùng, cây cỏ… Nguyên lý tạo thế giới thực vật và thế giới động vật vẫn như vậy - bằng cách cô đặc dần dần các dạng trường xoắn đơn giản hơn của thế giới vi tế.

Các giai đoạn phát triển loài người

Có thể phân chia sự phát triển nhân loại thành mấy giai đoạn sau đây: giai đoạn người giống thiên thần và ma, giai đoạn người Lemuri, giai đoạn người Atlan và giai đoạn người văn minh chúng ta.

Giai đoạn người giống thiên thần và ma - Nhiều triệu năm về trước, trên Trái đất xuất hiện những sinh vật tựa thiên thần, cao tới 60 mét và hơn thế. Những người đó ở dạng năng lượng nên có thể đi xuyên vật cản đặc. Có nhiều thứ sống trong thiên nhiên cũng chưa đặc: cây cối, con vật v.v… Tuy vậy, những người chưa đặc cũng có bộ gen cho phép tái tạo dòng giống tựa như họ nhờ cách đâm chồi và phân chia.

Những người tựa thiên thần khi sống phải tuân thủ quy luật của thế giới vi tế và liên hệ trực tiếp với Cõi kia. Họ khó có thể thay đổi và thực hiện được điều gì trong thế giới vật thể đông đặc hơn họ nhiều. Vì vậy, tiến trình hoàn thiện dukhơ có quan hệ trực tiếp với sự năng động của con người, nó cũng đã diễn ra từ từ.

Có thể gọi giai đoạn người giống thiên thần là thời kỳ hài nhi của nhân loại. Mặc dù Cõi kia và dukhơ đã hỗ trợ những người xuất hiện trên Trái đất, nhưng thực tế đã không nhận được gì thay thế.

Trong quá trình tiến hoá, thân thể người được cô đặc dần, nhỏ đi về kích thước và con người từ chỗ giống thiên thần (chủng tộc thứ Nhất) đã chuyển thành người giống ma (chủng tộc thứ Hai). Người giống ma có một mắt nhìn thấy trong thế giới vi tế, họ cũng sinh sôi bằng cách đâm chồi và phân chia, có thể đi xuyên vật cản đông đặc, nhưng đã có thể làm một số việc trong thế giới vật thể chỉ nhờ năng lượng của thế giới tế vi như tác động lên lực hấp dẫn để di chuyển vật nặng. Người giống ma bắt đầu hoạt động tích cực trong thế giới vật thể, nó đã đem lại những kết quả đầu tiên đối với việc hoàn thiện dukhơ ở Cõi kia. Từ thời kỳ hài nhi, loài người chuyển sang thời kỳ ấu thơ.

Giai đoạn người Lemuri - Việc cô đặc dần dần thân thể người giống ma đến một mức nào đó đã làm xuất hiện người Lemuri (chủng tộc thứ Ba). Người Lemuri sơ kỳ cao gần 20 mét, có hai mặt, 3 mắt và bốn tay. Hai tay phía trước phục vụ hai con mắt trong thế giới vật thể, còn hai tay phía sau phục vụ con mắt trong thế giới vi tế. Người Lemuri không còn khả năng đi xuyên qua vật cản đông đặc, nhưng nhờ có bốn tay nên đã làm được nhiều việc trong thế giới vật thể. Họ có thể không những sử dụng có hiệu quả năng lượng của thế giới vi tế (tác động lên lực hấp dẫn, tác động lên loài vật…), mà cả năng lượng của thế giới vật thể (sử dụng cơ bắp, lửa, nước…). Bộ gen của họ đã hoàn thiện tới mức là đã có sự phân chia giới (nam và nữ) để có thể sinh con cái.

Quá trình cô đặc thân thể vẫn được tiếp diễn, tầm vóc người Lemuri trung kỳ (Lemuri - Atlan) nhỏ dần, cao chỉ còn 10 mét. Con mắt thứ ba ở phía sau tụt vào khoang sọ, nhưng vẫn giữ các chức năng là cơ quan điều chỉnh sang sóng của Cõi kia. Hai tay phía sau phục vụ con mắt thứ ba biến mất.

Người Lemuri hậu kỳ sống nửa dưới nước, có những cái mang nhỏ giúp họ hít thở dưới nước. Họ xây dựng các đô thị to lớn, có trình độ kỹ thuật cao (thiết bị bay, chinh phục vũ trụ…), có nền khoa học phát triển, biết cách sử dụng nội năng để chữa bệnh. Tuổi thọ của họ vào khoảng 1000 - 2000 hoặc nhiều hơn.

Người Lemuri hậu kỳ biết sử dụng toàn diện năng lượng của thế giới vật thể, nhưng công nghệ của họ dựa chủ yếu vào sự hiểu biết quy luật của thế giới vi tế. Người nào cũng có quan hệ với Cõi kia, thu nhận kiến thức từ đó, còn sự hoạt động của họ có tác dụng bổ sung tri thức cho Cõi kia. Họ có khả năng ngồi thiền và nhập định dễ dàng. Những người Lemuri ưu tú nhất biết cách phi vật chất hoá và vật chất hoá (giảm hoặc tăng cô đặc vật chất). Họ thông thạo thuật khinh thân (bay nhanh trong không trung). Thậm chí, họ có thể phi vật chát hoá và vật chất hoá cả máy bay hay những thiết bị khác.

Cõi kia có thể tự hào về đứa con của mình đã sinh ra - con người ở thời kỳ văn minh. Những người Lemuri không chỉ chinh phục được thế giới vật thể và củng cố hình thái của sự sống vật thể, họ còn bằng các hoạt động nghiên cứu và việc thiện của mình đã làm phong phú trường xoắn của Không gian thông tin toàn thể (Cõi kia hay Chúa Trời), bổ sung thông tin mới cho nó. Họ đã đạt được mục tiêu là tạo dựng cuộc sống ở mức cao trong thế giới vật thể, thúc đẩy quá trình hoàn thiện và phát triển sự sống nơi thế giới vi tế.

Trong lịch sử nhân loại, giai đoạn người Lemuri kéo dài và tiến bộ hơn cả. Khi đó cái Thiện và Tri thức được tôn vinh trong nhiều triệu năm đã đem đến sự tiến bộ mà vĩ lẽ đó mà Cõi kia đã tạo dựng nên loài người.

Tuy nhiên, trong lòng nền văn minh Lemuri phát triển cao đã diễn ra quá trình thay thế tri thức bởi nạn sùng bái quyền lực. Kiến thức bị sử dụng vào việc giành giật quyền lực, sự tôn sùng cái Thiện dần bị phá vỡ và cái Ác xuát hiện.

Bắt đầu sản xuất vũ khí, người Lemuri chia thành các nhóm đe doạ thù địch nhau. Bầu âm khí xuất hiện trên mặt đất. Không gian thông tin toàn thể được tiếp nhận ở người Lemuri không những về kiến thức và năng lượng tâm thần tích cực, mà cả tâm năng tiêu cực(3), gây tác động huỷ hoại lên trường xoắn của Cõi kia. “Kho tư liệu” về sự sống trên Trái đất đã được thiết lập trong suốt thời kỳ tiến hoá của con người và tập trung trong các trường xoắn của Cõi kia đã bị huỷ hoại.

Tại sao người Lemuri từ chỗ đề cao tri thức lại chuyển sang tôn sùng quyền lực? Khó cắt nghĩa vì sao lại xảy ra như vậy. Có thể người Lemuri đã phạm phải một tội tầy đình - họ tự cho mình là cao siêu nhất trong Vũ trụ mà quên mất chính Cõi kia đã sinh ra họ. Điều rõ ràng là, trong số những người Lemuri chỉ có thể có một “Chúa” (người cầm đầu), cho nên họ phải tiến hành chiến tranh để giành ngôi thứ.

Những người Lemuri phát triển nhất (những người có kinh nghiệm phi vật chất hoá, vật chất hoá và di chuyển trong không gian) đã hiểu rằng, Chúa Trời không để tâm năng tiêu cực tác động huỷ hoại kéo dài, có thể dẫn đến xoá bỏ “kho tư liệu” về sự sống trên Trái đất trong các trường xoắn của Cõi kia. Họ cũng đã hiểu rằng, cả thể giới vật thể lẫn thế giới vi tế có cùng một khởi nguồn là Tuyệt đối, rằng thế giới vi tế tiến bộ trước thế giới vật thể và vì vậy, có thể có ảnh hưởng lên Tuyệt đối, mà kết quả là các khách thể vũ trụ (hành tinh, thiên thạch…) sẽ thay đổi và tiếp theo là thảm hoạ toàn cầu.

Nhiều người Lemuri hiểu là tất yếu sẽ có thảm hoạ, nên đã bỏ đi vào hang động, nhập định và tổ chức Quỹ gen nhân loại (phòng khi loài người bên ngoài bị huỷ diệt toàn bộ). Những người Lemuri phát triển nhất đã sử dụng khả năng phi vật chất hoá và vật chất hoá để chuyển xuống dưới lòng Trái đất. Họ mang theo các máy móc thiết bị, lập nên Sambala và Agatchi để bảo toàn và phát triển công nghệ văn minh Lemuri, gìn giữ Quỹ gen nhân loại.

Rồi thảm hoạ toàn cầu đã xảy ra. Nền văn minh của người Lemuri trên mặt đất đã bị tiêu vong. Cái giá của sự đề cao quyền lực, thay vì tri thức, đã dẫn đến hậu quả thê thảm như vậy. Đấng Trí Tôn không thể để “kho tư liệu” về sự sống trên Trái đất trong các trường xoắn của Cõi kia bị phá huỷ hoàn toàn. Và chỉ Sambala và Agachi còn lại, những cái đó như một biểu tượng của nền văn minh Lemuri hùng vĩ và tiếp tục bổ sung kiến thức cho Cõi kia.

Nhưng trước khi xảy ra thảm hoạ rất lâu, trong xã hội Lemuri đã bắt đầu sinh ra những người tầm vóc nhỏ hơn và có diện mạo khác thường. Họ cao khoảng 3-5 mét. Số lượng những người như vậy ngày càng gia tăng. Đó là đại diện đầu tiên của chủng tộc tiếp theo trên Trái đất - người Atlan. Một bộ phận người này đã sống sót sau thảm hoạ Lemuri và còn lại như những bộ lạc người thiểu số.

Giai đoạn người Atlan - Người Atlan thời kỳ văn minh Lemuri về mọi mặt đều dựa vào kinh nghiệm và công nghệ của bậc đàn anh là người Lemuri - được coi là các Thiên tử.

Nhưng sau khi nền văn minh Lemuri bị tiêu vong, người Atlan đã rơi vào hoàn cảnh nguy kịch - điều kiện sống trên Trái đất đã thay đổi, còn bậc đàn anh Lemuri lại không còn nữa. Trong số những người Atlan sống sót sau thảm hoạ, chỉ một số người tiếp tục tồn tại kiểu tự nhiên bán khai. Cũng như người Lemuri, người Atlan có “con mắt thứ ba” phát triển. Nhờ vậy, họ có thể tự điều chỉnh sang sóng của Không gian thông tin toàn thể và thu nhận từ đó kiến thức của người Lemuri. Nhưng kiến thức của người Lemuri ẩn chứa trong trường xoắn của Cõi kia không lộ ngay cho người Atlan biết. Bởi vậy, giai đoạn đời sống bán khai của người Atlan kéo dài rất lâu.

Lý do mà người Atlan chưa thể sử dụng ngay được tri thức của người Lemuri có thể như sau:

- Bộ nào người Atlan kém phát triển hơn người Lemuri. Cho nên khi tiếp cận với Trường kiến thức toàn thể cũng không hiểu được gì. Quá trình tiến hoá lâu dài đã tạo cho họ thói quen dựa dẫm nhiều vào bậc đàn anh Lemuri, không cho họ khả năng tự phân tích kiến thức và áp dụng vào đời sống để tiến bộ.

- Đấng Trí Tôn đã cắt mối liên hệ của người Atlan khỏi Không gian thông tin toàn thể (Cõi kia), tức là đưa ra nguyên tắc “SoHm” (hãy tự thể hiện mình). Có nhiều khả năng nguyên tắc “SoHm” đã có từ thời văn minh Lemuri khi tồn tại nhiều cuộc xung đột và quyền lực được đề cao.

Nguyên tắc “SoHm” có lẽ có vai trò che chở các trường thông tin khỏi sự huỷ hoại của năng lượng tâm thần tiêu cực xuất phát từ Trái đất. Còn ở giai đoạn đầu văn minh Atlan, nguyên tắc đó chưa bị huỷ bỏ bởi chưa có gì đảm bảo là người Atlan sẽ là nguồn tâm năng tích cực. Chỉ có Sambala và Agatchi đề cao tri thức và tư tưởng hướng thiện là không bị nguyên tắc “SoHm” phong toả đường vào tri thức của Cõi kia.

Trong một số tôn giáo có khái niệm “Thời hoàng kim”, khi mà tri thức cổ xưa luôn mở ra trước con người. Nói cách khác, “Thời hoàng kim” là thời kỳ mà nguyên tắc “SoHm” được huỷ bỏ đối với loài người và con người được tự do tiếp cận với tri thức cổ xưa của người Lemuri.

Trong điều kiện phải tự xoay xở, nền văn minh Atlan đã phát triển rất chậm. Con người biết sử dụng thông thạo một số dạng năng lượng vật thể như sức cơ bắp, lửa, nước… để xây cất nhà cửa, tìm kiếm thức ăn (chủ yếu ở biển), sinh sống vừa dưới nước vừa trên cạn. Trong thời kỳ đó, thỉnh thoảng Sambala và Agatchi lại thả những người Lemuri từ Quỹ gen nhân loại ra để làm nhiệm vụ tiên tri. Cõ lẽ người Atlan khi thấy người Lemuri đã tung hô: “Các Thiên tử về rồi!”. Những người Lemuri “tiên tri” chủ yếu truyền cho người Atlan tinh thần bác ái và điều thiện là những thứ sẽ giúp cho sự tiến bộ xã hội

Rồi văn minh người Atlan đã có những bước tiến nhảy vọt. Họ thông thạo khoa thần giao cách cảm, tác động tâm thần lên lực hấp dẫn, nắm được sức mạnh của thần chú và các dạng năng lượng khác của thế giới vi tế. Họ có khả năng dùng ánh mắt di chuyển vật nặng khi xây dựng phố phường, tự chữa bệnh bằng nội năng, sử dụng sức mạnh của thần chú trong ngành hàng không, xây dựng các thành phố lớn, máy vimana bay lượn trên bầu trởi, dưới nước có những đồn điền tuyệt vời, những đài kỷ niệm đồ sộ (vẫn còn đến ngày nay). Tất cả những thứ đó chứng tỏ người Atlan đã có một nền văn minh hùng hậu. Thế giới sống trong những sắc màu đỏ thắm.

Vào thời kỳ đó, cái thiện và tình yêu thương là quy tắc sinh hoạt cơ bản của người Atlan. Tri thức được đề cao, nhưng chưa chắc chắn, bởi người Atlan nhờ con “mắt thứ ba” tự điều chỉnh sang sóng của Không gian thông tin toàn thể, bằng thần giao cách cảm dễ dàng thu nhận kiến thức của nền văn minh Lemuri. Con em của người Atlan không cần phải học hành tại các trường thấp cũng như cao. Nhờ sự phát triển của bộ não, kiến thức đã đến với họ từ không gian thông tin toàn thể.
Kiến thức của nền văn minh Lemuri được lưu trữ trong các trường xoắn của Cõi kia phong phú tới mức mà người Atlan cảm thấy không cần phải khẩn trương phát triển khoa học, họ chỉ cần sử dụng một phần hiểu biết của người Lemuri cũng đủ rồi. Có vẻ như đã sinh ra thói quen “ăn không ngồi rồi” trong tìm hiểu và nghiên cứu khoa học.

Thói “ăn không ngồi rồi” của người Atlan trong khoa học đã không thể đề cao được tri thức rất cần thiết để bổ sung vào trường thông tin của Cõi kia. Việc khó nhất là có được kiến thức mới, điều này thuộc chức phận của một số người có năng lực và tiến bộ nhất. Trong khi đó, người Atlan nào cũng có thể nhận được kiến thức bằng cách tự điều chỉnh sang sóng của Không gian thông tin toàn thể. Bởi vậy, các kiến thức dần dần đã lọt vào tay những kẻ háo danh và thiển cận, đã không đứng vững trước sự cám dỗ của quyền lực.

Thế là thay vì tri thức, một số người Atlan đã đề cao quyền lực. Lòng tôn sùng cái Thiện đã không đương đầu nổi với những ham muốn quyền lực tiêu cực và có thể dẫn đến những hiểm hoạ mới.

Người ta cho rằng, con người đã được sắp đặt để luôn luôn được hướng tới một cái gì đó. Con người được tạo ra như một thực thể tự phát triển. Vì vậy, ý nguyện của con người cần được hướng vào đâu đó. Vào chỗ nào? Câu trả lời thật giản đơn: kiến thức và cái Thiện. Việc đề cao cái Thiện và tri thức là thứ cấu thành chủ yếu sự tiến bộ của cả nhân loại. Nếu khác đi thì sẽ là tình trạng sùng bái quyền lực và đi kèm là cái Ác và hậu quả tất yếu sẽ là sự diệt vong.

Tình hình sùng bái quyền lực ở người Atlan gia tăng. Họ được chia thành những nhóm người kình địch nhau. Kiến thức của Cõi kia do tiếp nhận của người Lemuri đã bị người Atlan sử dụng để chế tạo vũ khí. Bắt đầu những cuộc chiến tranh triền miên. Các trường xoắn của Cõi kia tiếp nhận một số lượng lớn năng lượng tâm thần tiêu cực.

Nhìn thấy trước sẽ có thảm hoạ toàn cầu, những người Atlan tiến bộ nhất đã bỏ vào hang động và nhập định, bổ sung Quỹ gen nhân loại. Có cảm tưởng rằng, hiện tượng nhập định có tính chất đại chúng. Vì vậy, bộ phận chủ yếu của Quỹ gen nhân loại hiện nay vẫn là từ người Atlan.

Sambala và Agatchi đã không ngăn cản được thảm hoạ toàn cầu, bởi các nhà tiên tri là người Lemuri không đủ khả năng thuyết phục, còn sử dụng quân sự thì không thể. Rất có thể người Atlan chưa đủ trình độ để bổ sung Quỹ gen nhân loại ở sâu trong mặt đất vì họ chưa đạt đến khả năng phi vật chất hoá và vật chất hoá là tối cần thiết trong điều kiện như vậy.

Thảm hoạ đã xảy ra cách nay khoảng 850.000 năm. Trục Trái đất thay đổi vị trí, các cực chuyển chỗ, bắt đầu trận đại hồng thuỷ. Nguyên tắc phong toả “SoHm” lại phát huy hiệu lực. Nhưng nền văn minh Atlan không tiêu vong ngay một lúc. Một bộ phận (người Atlan da vàng) dùng thiết bị bay vimana đã kịp bay thoát tới vùng cao Himalaya (Tây Tạng) và sa mạc Gobi, những nơi trước đại hồng thuỷ là Bắc cực. Họ sinh cơ lập nghiệp trên bờ và các đảo của Nội hải, rồi sống ở đó thêm vài nghìn năm nữa. Nhưng cuộc sống cô lập, dân số ít ỏi và điều chủ yếu là không có kiến thức từ Không gian thông tin toàn thể đã làm cho xã hội như vậy đi đến chỗ thoái hoá, hoá hoang và diệt vong. Thói quen “ăn không ngồi rồi” của người Atlan đã làm hại họ.

Một bộ phận khác (người Atlan da đen) đã sống sót ở những vùng cao của lục địa châu Phi. Nhưng họ nhanh chóng bị thoái hoá, hoá hoang và tiêu vong cũng vì các nguyên nhân như trên. Rất có thể, những người Atlan đen đó đã góp phần vào sự hình thành lớp người da đen ngày nay.

Còn một bộ phận người Atlan thứ ba nữa cũng đã thoát chết nhờ sống trên hòn đảo Platon(4) ở khu vực Đại Tây Dương. Nhóm người Atlan này tiến bộ hơn cả. Họ đã không bị thất thoát kiến thức của mình trong hoàn cảnh không thể tiếp xúc với Không gian thông tin toàn thể do nguyên tắc phong toả “SoHm”. Họ vẫn tổ chức nghiên cứu khoa học, bảo toàn được công nghệ và bắt buộc mọi người phải tu thân hoàn thiện về mặt tâm linh mà không có sự hỗ trợ trực tiếp của Cõi kia.

Người Atlan trên đảo Platon đã tự khẳng định được mình trong điều kiện mới của Trái đất và sống qua một thời kỳ dài từ năm 850.000 đến năm 11.000 về trước. Trong thời kỳ đó, nước của trận Đại hồng thuỷ tràn ngập Trái đất rút dần đã để lộ ra những vùng đất mới, người chủng tộc mới (chủng tộc thứ Năm, lớp người của thời dại chúng ta) đã đến sống ở đó.

Đối với người Atlan, những người mới đó bé nhỏ (cao 2-3 mét), nhưng hiếu chiến và đần độn. Người Atlan đảo Platon đã gây chiến với một số người mới này, nhưng cũng như duy trì tình hữu nghị với một số người mới khác. Ví dụ, người Atlan đảo Platon đã có liên hệ chặt chẽ với người Ai Cập cổ đại, dạy bảo họ nhiều kỹ thuật của mình và cùng họ xây nên những kim tự tháp Ai Cập. Khi di chuyển các vật cực nặng (khối đá), họ đã dùng tâm năng tác động lên lực hấp dẫn. Các kim tự tháp đã được xây dựng cách đây khoảng 75.000 - 80.000 năm. Sau khi xây xong kim tự tháp, nhiều người Atlan và cả một số đại diện người Ai Cập đã chuyển xuống dưới kim tự tháp ở. Họ nhập định và bổ sung Quỹ gen nhân loại.

Nhưng rồi cách nay 11.000 năm, các nhà thiên văn người Atlan đảo Platon đã tiên đoán sao chổi Chifon sắp lao vào Trái đất. Và sao chổi này đã rơi xuống vùng Đại Tây Dương. Nơi cư trú cuối cùng của người Atlan đảo Platon đã bị chìm sâu xuống biển. Nền văn minh Atlan tiêu vong hoàn toàn kể từ đó.

Giai đoạn tồn tại nền văn minh Atlan ngắn ngủi hơn nhiều so với nền văn minh Lemuri và kém xa về mặt tiến bộ.

Giai đoạn người arian - Không hiểu vì sao mà chúng ta quen gọi người Jecman là người Arian. Điều này không đúng. Trong tất cả các nguồn tư liệu cổ đại, người thuộc nền văn minh chúng ta đều được gọi là người Arian.

Người Arian đã xuất hiện trong lòng nền văn minh Atlan có mặt gần một triệu năm về trước. Trong số người Atlan bắt đầu sinh ra những người có tầm vóc thấp hơn, không có màng giữa các ngón chân, mũi và bàn chân to bè. Những người này thích nghi với đời sống trên cạn hơn, vì thế có nhiều thuận lợi hơn so với người Atlan. Những người có ngoại hình khác thường đó năng động và có sức làm việc hơn, nhưng về mặt tâm linh và đặc biệt về khả năng tạo tác động tâm năng thì thua kém người Atlan nhiều. Tuy vậy, khả năng tâm linh của họ phát triển cao hơn đáng kể so với loài người ngày nay. Nhờ học hỏi bậc tổ tiên Atlan của mình, người Arian thông thạo một số dạng năng lượng của thế giới vi tế; họ có thể nhập định và tạo hiệu quả thần giao cách cảm cũng như điều khiển từ xa. Những người Arian đầu tiên cao khoảng 2-3 mét.

Ở giai đoạn cuối của nền văn minh Atlan, khi đã xuất hiện những người Arian đầu tiên, nguyên tắc phong toả “SoHm” hết hiệu lực. Vì thế, cả người Arian và người Atlan đều có thể sử dụng kiến thức của Cõi kia. Con cháu của những người Arian đầu tiên cũng không đi học. Khả năng tiếp thu kiến thức từ Không gian thông tin toàn thể tuỳ thuộc vào sự phát triển của bộ não. “Mắt thứ ba” ở những người Arian đầu tiên phát triển, nhưng về mặt cơ năng kém hơn người Atlan. Họ có nhiều tính vật chất và phàm tục hơn người Atlan.

Giai đoạn sinh tồn đầu tiên của những người Arian trùng với thời kỳ hiềm khích, chiến tranh giành quyền lực của người Atlan. Những người Arian đầu tiên đã hấp thụ đức tính sùng bái quyền lực của người Atlan, tính này được lưu giữ trong nền văn minh Arian của chúng ta cho đến tận ngày nay. Cùng với người Atlan, những người Arian đã tham gia các cuộc chiến tương tàn. Họ tỏ ra dai sức và ít đòi hỏi quyền lợi hơn người Atlan.

Người Arian cũng nhận thức được sắp có thảm hoạ toàn cầu, nhưng tính sùng bái quyền lực của họ đã trội hơn. Trước khi xảy ra thảm hoạ, có nhiều người Arian đã bỏ vào hang động, nhập định và bổ sung vào Quỹ gen nhân loại. Rất có thể, những người Arian đầu tiên biết được và tôn sùng Sambala và Agatchi, sùng kính người Lemuri là “Thiên tử”.

Trước khi xảy ra tai biến toàn cầu, có nhiều người Arian đã nhập định không những nhằm mục đích bổ sung Quỹ gen nhân loại, mà còn để tránh thảm họa. Phần lớn những người Arian và cả người Atlan đều đã chết trong thời gian trận Đại hồng thủy sau đó. Chỉ có số ít người sống sót trên khu vực không bị ngập lụt. Bắt đầu thời kỳ khó khăn vì nhà cửa, máy móc và công nghệ bị mất sạch. Nhưng khó khăn nhất vẫn là điều con người bị tách khỏi tri thức của Cõi kia do hiệu lực của nguyên tắc “SoHm”. Hầu hết con người bị hóa hoang và chuyển sang đời sống nguyên thủy.

Trong bối cảnh đó, người Arian đã thường xuyên gây chiến với người Atlan còn lại. Người Arian tỏ ra thích nghi hơn với điều kiện sống khắc nghiệt và đẩy lùi người Atlan ở nhiều khu vực. Họ nhanh chóng dọn đến những vùng nước vừa rút để xây dựng làng xóm. Còn người Atlan vẫn sống thành từng khu biệt lập. Do ít người và những cuộc hôn nhân đồng huyết thống nên họ bị suy thoái dần.

Sự tiến bộ của xã hội người Arian không kéo dài đến 100.000 năm. Lý do là sau trận Đại hồng thủy, đất đai trong một thời gian dài chỉ toàn là đá, sự cô lập và hôn nhân đồng huyết thống đã làm cho các chỉ số di truyền của người Arian ngày càng xấu đi. Có một số tư liệu cho biết rằng, vào thời gian đó Quỹ gen nhân loại đã xuất ra không ít các nhà tiên tri (ở dạng Phật), nhưng hình như sự hoạt động của họ không có kết quả. Tầm vóc của người Arian nhỏ dần, chỉ còn cao 1,5 mét và nhanh chóng trở thành các bộ lạc mọi rợ.

Dường như khoảng 100.000 - 200.000 năm về trước có ba nhóm người Arian chủ yếu sinh sống ở vùng Tây Tạng, miền Nam châu Phi và Địa Trung Hải. Nhưng hai nhóm đầu hoàn toàn thoái hóa và hóa hoang, chỉ còn nhóm Địa Trung Hải từ từ đi trên con đường tiến bộ và kết quả đã hình thành nên nền văn minh Ai Cập cổ đại. Nền văn minh Ai Cập cổ đại đã phát triển cao, có lẽ kim tự tháp là công trình hợp tác của họ với người Atlan đảo Platon. Sự tiêu vong của Ai Cập cổ đại có thể là do thảm họa của sao chổi Chifon va vào Trái đất (cách đây 11.000 năm) và sự diệt vong của người Atlan đảo Platon - những người có kiến thức và kinh nghiệm mà người Ai Cập vẫn sử dụng.

Cách đây 18.013 năm, ở vùng Tây Tạng và Himalaya đã xuất hiện một bậc tiên tri mới. Một số người gọi Ngài là Manu, số khác gọi Ngài là Rama, còn số khác nữa gọi Ngài là Phật Ponpo. Nhà tiên tri này có tầm vóc to lớn và ngoại hình khác thường. Có vẻ như cặp mắt của Ngài đã được vẽ trên tất cả các đền chùa Tây Tạng. Dựa vào đặc điểm của đôi mắt, nhà tiên tri đó có nhiều khả năng là người Lemuri.

Khoảng thời kỳ 18.000 năm về trước, nhân loại chủ yếu là các bộ lạc man rợ và bán khai, triển vọng phát triển ngày một thu hẹp. Chỉ có nền văn minh Ai Cập là nổi bật, nhưng cũng đã có những thoái hóa nghiêm trọng.

Sambala và Agatchi đã tìm hiểu trong nền văn minh Arian, cuối cùng đã quyết định để người Lemurri làm nhiệm vụ tiên tri. Và đó chính là Phật Ponpo như trên đã nói tới.

Ngài bắt đầu hoạt động ở vùng Tây Tạng bằng việc tuyển chọn những cặp vợ chồng tốt nhất của người Arian, rồi cách ly họ với các bộ lạc man rợ, dạy bảo họ cách sống, giúp đỡ họ nhân giống và xếp đặt nơi cư trú trên Trái đất. Chính những người như vậy đã lan tỏa ra khắp địa cầu, lấn át các bộ lạc bán khai.

Tuy có pha trộn với các bộ lạc bán khai và có hiện tượng hóa hoang ở một số khu vực, nhưng những người Arian xuất thân từ Tây Tạng đã đem lại cho nền văn minh chúng ta sự tiến bộ dần dần. Nhà tiên tri người Lemuri đã ngăn chặn được con đường thoái hóa của chủng tộc Arian. Vì vậy, Ngài sẽ còn mãi mãi trong ký ức mọi người, còn đôi mắt của Ngài tô điểm cho các đền chùa Tây Tạng có ý nghĩa như biểu tượng của sự tiến bộ.

Sambala và Agatchi luôn theo sát cuộc sống của người Arian. Nguyên tắc phong tỏa “SoHm” đã làm cho người Arian tôn sùng quyền lực và không né tránh cái Ác. Nhiều cuộc chiến tranh triền miên xảy ra. Dần dần con người không còn biết đến Cõi kia là gì.

Khoảng trên dưới hai ngàn năm trước đây, đã xuất hiện một nhóm các bậc tiên tri như Phật Thích Ca, Chúa Jesus, Mohammed… để dạy bảo loài người kiến thức về Cõi kia.

Hoạt động của các nhà tiên tri đó có kết quả rõ ràng, các tôn giáo ra đời ngày càng nhiều: đạo Phật, Ấn Độ giáo, đạo Hồi v.v… Tinh thần tôn vinh cái Thiện và tri thức gia tăng, nhưng không thắng nổi tư tưởng đề cao quyền lực và bắt tay với cái Ác. Trong tình hình như vậy không thể có chuyện tiết lộ tri thức cổ xưa của người Lemuri cho người Arian.

Nhưng rồi vào các thế kỷ 18-19 của kỷ nguyên chúng ta, ở một số vùng trên thế giới đã xuất hiện sự sùng mộ kiến thức khác lạ, chỉ nghiên cứu thế giới vật thể (các tiến bộ KHKT, học thuyết tiến hóa…), không có sự tìm hiểu kinh nghiệm thần thánh. Người Arian như thể muốn tỏ rõ vẫn có tiến bộ khoa học kỹ thuật mà không cần đến kiến thức của Cõi kia.

Song, sự tôn sùng kiến thức kiểu đó đã dẫn đến tai họa. Thảm họa nhanh chóng giáng xuống nhân loại là hai cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai.

Tệ tôn sùng quyền lực đã làm cho sự hiện hữu các trào lưu tôn giáo trở nên nguy hiểm. Con người không nhận biết được một điều rằng: cội nguồn của mọi tín ngưỡng, tôn giáo là một. Đã đến lúc cần phải thống nhất các tôn giáo và xây dựng thành một Tín ngưỡng Duy nhất. Liệu bằng sự việc này có thể tránh được chiến tranh và thảm họa toàn cầu hay không? Chưa thể biết được!

Năm 1999 là năm cuối và bắt đầu một giai đoạn mới của Phật lịch. Có nhiều nhà tiên tri đã phán rằng: thời điểm này chính là ngày tận thế. Hậu quả có khoảng 2/3 nhân loại sẽ bị hủy diệt. Họ còn cho biết thêm: sẽ xuất hiện các nhà tiên tri mới, các Ngài sẽ thống nhất các tín ngưỡng và tạo dựng Tôn giáo Thống nhất trên cơ sở cái Thiện và lòng nhân ái. Cũng sẽ xuất hiện nhiều tiên tri giả danh do lực lượng Ác phái đến. Nhân loại sẽ tiến dần đến “Kỷ nguyên của Chân lý” và được tiết lộ tri thức cổ xưa.

Có hay không “Ngày tận thế?” - Sẽ có Ngày tận thế hay không? Không thể có lời giải đáp đơn nhất cho câu hỏi này. Những người tiên đoán tương lai có lẽ đã dựa vào kiến thức của Không gian thông tin toàn thể mà họ có khả năng tiếp cận. Nhưng một số người cho rằng, thông tin ở trong đó về tương lai không phải là hoàn toàn xác định và bất biến, tất yếu xảy ra. Tất cả các thứ đó cũng chỉ là dự báo và kết cục cụ thể phụ thuộc phần lớn vào sự phát triển của nhân loại.

Sự kiện Ngày tận thế có xảy ra hay không sẽ phụ thuộc nhiều ở chúng ta. Chúng ta cần ghi nhớ rằng, cái Thiện và tri thức sẽ thúc đẩy quá trình hiện thực hóa dự báo tích cực đối với sự phát triển của nhân loại, còn cái Ác và thói hám quyền lực có thể dẫn đến thảm họa toàn cầu trong tương lai, kể cả tận thế, hoặc tạo điều kiện phát triển yếu tố thụt lùi, dẫn đến hóa hoang.

HIỆN TƯỢNG HÓA HOANG TRÊN TRÁI ĐẤT

Không thể không nói đến sự kiện con người bị hóa hoang và sự suy biến của cả một dân tộc thành những bộ lạc bán khai và hoang dã. Rất có thể, hóa hoang là yếu tố thụt lùi trong quá trình tiến hóa của nhân loại từ thời xa xưa và không thể coi nhẹ vai trò của hiện tượng này.

Khỉ từ người hay người từ khỉ?
Chương trình học tập ở nhà trường cho chúng ta biết là con người thoát thai từ khỉ. Nhưng một số người lại khẳng định rằng, loài khỉ bắt nguồn từ con người. Lý lẽ của họ cũng tương tự như thuyết “tiến hóa”, chỉ khác là thay cho từ “tiến hóa” cần phải sử dụng từ “hóa hoang”.

Có thật như vậy không? Rất khó khẳng định điều này hoặc điều kia. Nhưng giả thuyết loài khỉ có nguồn gốc từ người cũng xác đáng, chẳng thua kém giả thuyết coi người thoát thai từ khỉ, bởi vì trong tự nhiên ngoài quá trình tiến hóa đi lên, còn có quá trình thoái hóa thụt lùi; đối với loài người đó là hóa hoang.

Dựa vào các nguồn tư liệu phương Đông, có thể nói đến hiện tượng con người hóa hoang hàng loạt liên quan đến các thảm họa toàn cầu. Hiện tượng này đã xảy ra với cả người Atlan cũng như người Arian (chủng tộc người thời đại chúng ta).

Có lẽ chỉ người Lemuri là không bị hóa hoang hàng loạt (không loại trừ trường hợp hóa hoang cục bộ). Vào thời kỳ xảy ra thảm họa toàn cầu, đại bộ phận người Lemuri đã chết. Chỉ một bộ phận nhỏ người Lemuri ưu tú với khả năng đặc biệt phi vật chất hóa và vật chất hóa đã chuyển xuống lòng đất và tổ chức nên Sambala và Agatchi. Trong hệ thống đời sống song song (Sambala và Agatchi), người Lemuri đã đạt tầm mức phát triển cao nhất. Khó mà tin được là người Lemuri bị hóa hoang.

Người Atlan hai lần đã bị hóa hoang hàng loạt. Sinh ra trong lòng nền văn minh Lemuri, một bộ phận người Atlan đã thoát khỏi thảm họa toàn cầu xảy ra cách nay 850.000 năm. Ngay sau đó, họ không còn sự hướng dẫn của người Lemuri và tụt dần xuống đời sống nguyên thủy. Các bộ lạc Atlan hóa hoang đã bị các bộ tộc tiến bộ lấn át dần dần và quá trình đó cứ tiếp diễn mãi cho tới khi được phát hiện ra những ghi chép viễn cổ của người Lemuri.

Đợt người Atlan hóa hoang hàng loạt lần thứ hai đã xẩy ra tại một thời kỳ khá xa so với trận Đại Hồng Thủy cách đây 850.000 năm. Sau một thời gian dài nhất định, người Atlan càng ngày càng quên nền văn hóa của mình và dần trở lại đời sống hoang dã: họ lấy da thú rừng làm quần áo che thân, ăn quả dại và săn thú để thêm nguồn dinh dưỡng. Phần lớn người Atlan hóa hoang đã bị người Arian lấn át và dần bị tiêu vong. Chỉ có người Atlan trên đảo Platon là không hóa hoang và bảo tồn nền văn minh của mình cho đến thời kỳ bị tiêu vong cách đây 11.000 năm, sau khi sao chổi Chifon rơi xuống Thái Bình Dương.

Người Arian phát sinh trong nền văn minh Atlan và một bộ phận đã thoát chết trong trận Đại Hồng Thủy cũng đã bị hóa hoang hàng loạt. Có nhiều tư liệu cổ mình chứng điều này. Hiện tượng hóa hoang của người Arian sâu sắc và rộng lớn tới mức là chỉ ở thời kỳ lịch sử không xa (cách đây 18.000 năm), các bậc Tiên tri mới chặn đứng được bước thụt lùi và bắt đầu có sự tiến bộ nhất định.

Cũng có thể cho rằng, 11.000 năm về trước sau khi sao chổi Chifon rơi xuống Trái đất, một đợt hóa hoang hàng loạt liên quan đến điều kiện sinh sống bị thay đổi mạnh.

Cần lưu ý là không phải tất cả những người hóa hoang trên Trái đất đều đã chết. Như chúng ta biết, một số người bị hóa hoang vẫn tồn tại ở nhiều khu vực của thế giới.

Người mọi rợ, họ là ai?

Ngày nay có thể bắt gặp các bộ lạc mọi rợ và bán khai ở nhiều nước trên thế giới như Indonexia, Tân Ghi Nê, Úc, Việt Nam, Chi Lê, Brazin, Peru, nhiều vùng ở châu Phi v.v… Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, trong số những người mọi rợ ngày nay có hậu duệ của ba chủng tộc chính trên Trái đất: Lemuri, Atlan và Arian.

Liệu có thể tin được rằng, ngày nay vẫn còn con cháu của người Lemuri đã sống cách đây nhiều triệu năm không? Rất khó khẳng định nhưng hoàn toàn có khả năng.

Việc khảo sát và nghiên cứu các tộc người mọi rợ trên Trái đất là một trong những vấn đề khoa học phức tạp và lý thú nhất. Nó đang đòi hỏi sự quan tâm thích đáng của các nhà khoa học trên toàn thế giới.

Các nhân tố hóa hoang
Theo nhận định của một số nhà nghiên cứu, một trong những nhân tố hóa hoang là lối sống nhàn cư của tổ tiên xa xưa. Nhàn cư bao giờ cũng là nhân tố thụt lùi, bởi lẽ con người vốn là một khởi nguyên tự phát triển (tiến bộ). Các thế hệ nhàn cư nối tiếp nhau không nhận thức được rằng, có nhiều yếu tố tinh thần như chí khí và bộ não thoái hóa dần. Số người có năng lực trí tuệ giảm theo thế hệ. Các yếu tố bản năng như loài vật (ăn uống, ngủ, sinh đẻ…) chiếm ưu thế dần trong con người.

Nhân tố hóa hoang khác là đời sống biệt lập. Bằng chứng là đời sống cư dân thuộc các hòn đảo nhỏ biệt lập đều là dân mọi rợ. Một nhân tố hóa hoang nữa là chế độ cai quản độc tài cuồng tín ở một số quốc gia và bộ lạc. Tại đó, bị truy đuổi đầu tiên là những người có năng lực trí tuệ và tầm mức tâm linh cao hơn chủ nghĩa cuồng tín, họ thường bị giới cầm quyền ghen ghét và tìm cách sát hại. Đời sống xã hội tại những khu vực như vậy thụt lùi nhanh chóng.

Có vẻ như sự tiến bộ là một quá trình tiến hóa lâu dài và gian khổ, còn sự thụt lùi và hóa hoang của xã hội sẽ diễn ra sau một thời gian tương đối ngắn hơn. Điều đó thật dễ hiểu. Các quá trình phá hủy, kể cả trong tiến hóa, đòi hỏi ít sức lực hơn so với quá trình xây dựng.

Lịch sử nhân loài dường như đã có nhiều khả năng quay lại con đường thoái hóa và hóa hoang không thể đảo ngược. Các bằng chứng có thể được tìm thấy trong nhiều nguồn tư liệu tôn giáo và thư tịch cổ. Trong những nguồn tư liệu như vậy đã cho biết rằng: khi sự thụt lùi của loài người có dấu hiệu nguy hiểm thì không biết từ đâu lại xuất hiện các bậc Tiên tri; các Ngài dùng mãnh lực tâm linh của mình để chặn đứng xu hướng thụt lùi và hướng nhân loại vào con đường sáng tạo và đi lên.

Nhóm nghiên cứu của Erono Mundasep đã đi đến kết luận: các bậc Tiên tri trên Trái đất đã xuất hiện từ Quỹ gen nhân loại. Nói cách khác, Quỹ gen nhân loại đã được tạo dựng trên Trái đất nhằm mục đích ngăn ngừa sự hóa hoang của con người

QUỸ GEN NHÂN LOẠI

Nhóm các nhà thám hiểm và nghiên cứu do Erono Mundasep đứng đầu đã đưa ra phỏng đoán cho rằng, Trên Trái đất tồn tại Quỹ gen nhân loại dưới dạng các nền văn minh khác nhau, được bảo tồn trong trạng thái xômachi hàng ngàn, thậm chí hàng triệu năm; trong trường hợp xảy ra thảm họa toàn cầu thì nó là nguồn sẽ duy trì sự sống trên Trái đất, còn trong trường hợp xã hộ loài người thoái hóa thì nó hướng sự phát triển của nhân loại theo con đường tiến bộ nhờ sử dụng tri thức cổ xưa.

Ý nghĩa của Quỹ gen nhân loại

Theo Kinh Thánh và dẫn liệu của các Bậc được bí truyền thì con người xuất hiện trên Trái đất là do “hồn” được cô đặc dần. Con người chủng tộc thứ Nhất vẫn còn giống thiên thần. Họ đặc dần và khi tới chủng tộc thứ Ba (chủng tộc Lemuri) thì đã khá đặc, rồi đến chủng tộc thứ Tư (người Atlan) càng đặc hơn và cho đến chủng tộc thứ Năm (người Arian) thì đặc nhất. Thân xác người trong thế giới vật thể được tạo nên do hồn đặc dần, là kết quả của công cuộc lao động to lớn và dài lâu của Tạo hóa.

Nhưng loài người sống trên Trái đất không được bảo hiểm phòng khi xẩy ra thảm họa địa chất và vũ trụ cũng như cả những xung đột nội bộ, mà trong điều kiện khoa học và kỹ thuật khá phát triển có thể dẫn tới thảm họa toàn cầu cùng với sự diệt vong loài người. Trong trường hợp đó, Thiên nhiên lại bắt đầu từ đầu công cuộc lao động khổng lồ để phục hồi nhân loại bằng cách cô đặc phần hồn.

Bởi vậy, việc xây dựng trên Trái đất một hệ thống bảo hiểm nhân mạng loài người (Quỹ gen nhân loại) là hợp lý hơn khi Thiên nhiên phải tạo dựng lại phần thể xác con người trong trường hợp tiêu vong. Theo tư liệu cổ xưa, khả năng nhân loại tiêu vong đã xuất hiện từ thời văn minh Lemuri. Dường như ngay từ thời đó Quỹ gen nhân loại đầu tiên đã được xác lập và tồn tại cho đến tận ngày nay. Những người Lemuri có tầm vóc to lớn, họ đang nhập định trong trạng thái xômachi và là nền tảng của Sambala huyền bí.

Trong thời kỳ văn minh Atlantide, Quỹ gen nhân loại đã được bổ sung thêm người Atlan, còn người thuộc nền văn minh chúng ta có lẽ chỉ được bổ sung bởi chủ yếu ở giai đoạn phát triển sơ kỳ do hiệu lực của bức thông điệp cuối cùng “SoHm” đã dẫn đến thoái hoá “con mắt thứ ba” cần thiết để nhập xômachi. Như vậy, Quỹ gen nhân loại bao gồm đại diện của ba chủng tộc loài người gần đây là Lemuri, Atlan và Arian.

Dường như hiện tượng xômachi là công trình sáng tạo của Thiên nhiên hoàn chỉnh tới mức cho phép gìn giữ loài người trong một thời hạn rất lâu dài. Chưa gặp một nhà hoạt động tôn giáo nào của phương Đông khi kể về xômachi lại nói đến giới hạn thời gian của nó.

Có thông tin cho rằng, từ năm 2000 sẽ bắt đầu “thời kỳ hoàng kim”, con người dần dần sẽ được tiếp cận với tri thức cổ đại. Nội dung chính của tri thức cổ đại chủ yếu có liên quan đến hiểu biết về làm chủ năng lượng tâm thần. Tâm hồn con người như sản phẩm của thế giới vi tế, có những khả năng to lớn chưa được bộc lộ. Có thể tin chắc rằng, cổ nhân hiểu biết và áp dụng năng lượng tâm thần vững hơn chúng ta. Năng lượng của thế giới vi tế đó không chỉ là hiệu quả thần giao cách cảm và thôi miên, mà còn là các phương pháp chữa bệnh mới, tác động giảm lực hấp dẫn để di chuyển vật nặng, các nguyên lý mới của kỹ thuật hàng không v.v… Nhưng để làm chủ năng lượng tâm thần đòi hỏi con người phải có tâm hồn cao cả và tư tưởng trong sạch. Đó có lẽ là quy luật chủ yếu của hình thái đời sống trong thế giới vi tế.

Cơ cấu của Quỹ gen nhân loại

Dường như Quỹ gen nhân loại là cả một xứ sở ngầm dưới đất và dưới nước, bao gồm những người đang trong trạng thái xômachi. Theo các đạo sư, xômachi là trạng thái nhập định cao nhất khi tham thiền. Không phải ai tham thiền cũng đạt được nhập định, và cũng không phải người nào học được cách nhập định đều có thể đạt được trạng thái xômachi khi mà thể xác có thể được bảo quản nhiều năm.

Cần nói rõ thêm đôi điều về trạng thái xômachi. Khi ở trạng thái xômachi thì thể xác con người bất động hoàn toàn và cứng như đá. Sự trao đổi chất trong thân thể đạt đến điểm không. Khi ai đó đạt đến trạng thái xômachi thì sẽ hiểu được rằng, con người có thể sống mà không cần thể xác. Linh hồn của người xômachi được nối với thể xác bằng “sợi chỉ bạc”. Nếu linh hồn trở lại nhập vào thể xác xômachi thì người đó tiếp tục sống một thời gian nhất định. Theo các đạo sự, việc phái hồn nhập vào thể xác xômachi để con người sống lại do Cõi kia quyết định và điều khiển. Các đạo sư cũng cho biết rằng, “linh hồn” con người là một dạng năng lượng vũ trụ và nó nằm trong một không gian tách riêng. Tuy năng lượng linh hồn ở ngoài electron và ở ngoài proton, nhưng nó có khả năng tác động lên lực hấp dẫn. Năng lượng của nhiều tâm có một sức mạnh lớn lao. Tuỳ theo tính tích cực và tiêu cực, tâm năng có thể gây ra hiệu ứng sáng tạo và xây dựng cũng như huỷ diệt và tàn phá.

Người ta nói nhiều đến khả năng Quỹ gen nhân loại đang tồn tại dưới mặt đất, trong hàng động và trong kim tự tháp. Một điều kiện cần thiết đối với trạng thái xômachi là nhiệt độ xấp xỉ +4o C. Đây chính là nhiệt độ đặc trưng của các hang động, trong lòng kim tự tháp và các tầng sâu dưới nước.

Nhiều khả năng là trong Quỹ gen nhân loại có đại diện của ba chủng tộc người gần đây (Lemuri, Atlan và Arian), trong đó chủng tộc người Atlan chiếm phần lớn. Những người Atlan có thể nhập xômachi khá dễ dàng vì tầm mức tâm linh của họ vẫn còn khá cao. Dường như những cuộc chiến tranh triền miên trong nội bộ người Atlan đã thúc đẩy quá trình bổ sung Quỹ gen nhân loại như một điều báo trước về thảm hoạ toàn cầu. Cũng có giả thuyết coi người Lemuri dẫn đầu và điều khiển Quỹ gen nhân loại.
_______________________________________

(1) Cái gì đó hay Tuyệt đối được gọi là lớp vật chất phi cấu trúc hay bình diện tâm thức trong cuốn sách “Vũ trụ và con người dưới góc độ khoa học tâm linh”.

(2) Theo tiếng Nga, “dusa” có nghĩa là tâm hồn, nó ngụ ý phần cảm xúc và lý trí của con người. Trong thuyết tâm linh hiện nay, hai thứ đó được gộp làm một và được gọi là tâm trí. Còn từ “dukhơ” có nghĩa là linh hồn. Nó thường được dùng để chỉ một cái gì đó trường cửu của con người, vẫn tồn tại sau cái chết của thể xác.

(3) Theo nhiều tài liệu tâm linh của Nga, năng lượng tâm thần (tâm năng) được sinh ra từ các ý nghĩ và xúc cảm của con người.

(4)Đó chính là châu lục Atlan huyền thoại.



Phần II

"SOHM” - BỨC THÔNG ĐIỆP CUỐI CÙNG GỬI NHÂN LOẠI 

(Những điều phát lộ tại Ấn Độ).


Chương 1 

Tổ chức thám hiểm quốc tế tìm kiếm nguồn gốc phát sinh loài người.

Nhằm khẳng định hoặc phủ định giả thuyết của chính mình, chúng tôi đã tổ chức chuyến thám hiểu quốc tế, thành phần, ngoài Nga ra, còn có đại diện của Ấn Độ và Nê Pan. Chuyến thám hiểm được tổ chức dưới sự bảo trợ của Viện khoa học Quốc Tế thuộc Liên Hiệp Quốc. Tổ chức này bao gồm các học giả hàng đầu thế giới, trong đó có cả những người đạt giải thưởng Nô-ben, rất quan tâm tới các nghiên cứu của chúng tôi.
...
Lộ trình chúng tôi chọn đi qua nhiều đô thị và khu dân cư của Ấn Độ và Nê Pan, nơi tập trung nhiều đền chùa Ấn Độ giáo và Phật giáo lý thú về mặt khoa học. Tại các thành phố đó, chúng tôi có kế hoạch gặp gỡ các học giả nghiên cứu lịch sử tôn giáo. Chúng tôi còn có các dự định tìm đến các chùa nhỏ Nê Pan ở cao trên núi và tiếp chuyện các tu sĩ ẩn dật. Đến Ấn Độ có ba người: Xéc-gây Xê-li-vê-tốp, Vê-nhê Ga-pha-rốp và tôi. Sau Ấn Độ chúng tôi phải đáp máy bay sang Nê Pan, ở đó đã có mặt Va-lê-ri Lô-ban-cốp và Va-len-chi-na Ia-cốp-lê-va đang tiến hành nghiên cứu. Tại Ấn Độ và Nê Pan có thêm các thành viên người Ấn (bác sĩ Pa-ri-tra) và người Nê Pan (Sếch-can A-ri-en và Ki-ram Bút-đa-a-tra-rai). Rất may là mọi người đều nói tiếng Anh, người nói thạo, người nói kém hơn, nhưng tất cả đều có thể trao đổi bằng ngôn ngữ đã trở thành phương tiện giao tiếp quốc tế. Các đoàn viên người Ấn Độ và Nê Pan còn biết thêm tiếng địa phương: tiếng Nê Pan và Hin-đu.

Người thường biết gì về nguồn gốc loài người?

Nếu đặt câu hỏi này với những thường dân ở Nga, Mỹ, Đức và các nứơc tương tự như vậy thì ai đó sẽ đáp rằng người từ khỉ mà ra, người thì bảo hạt giống loài người đã được đem từ vũ trụ vào Trái đất, còn đại đa số sẽ nhìn bạn như thằng dở hơi và thốt rằng: “Tôi không biết”, cố tỏ ra họ chẳng cần biết điều đó, trong cuộc sống có biết bao vấn đề phải quan tâm, nào là làm vườn, đi mua hàng, lo trả các khoản nợ nần ... Đối với câu hỏi khiêu khích một trong các thuyết Đác-uyn cho rằng con người có nguồn gốc từ các loài khỉ khác nhau phần lớn sẽ phủ định Đác-uyn và chắc hẳn phân vân không biết chọn con khỉ nhỏ Macac hay con hắc tinh tinh và càng thấy người anh em họ hàng như vậy chẳng đáng kính trọng.

Thậm chí, ở Ấn Độ, chẳng ai hé răng về con khỉ, còn câu hỏi khiêu khích nọ chỉ gây buồn cười mà thôi. Ở đây, khỉ nhảy nhót trên nóc nhà và thường xuyên có mặt bên các hố rác, có lẽ chúng cũng gây nên các nỗi niềm như lũ chim bồ câu và quạ bên nước chúng tôi, và chẳng ai có thái độ sùng kính của con cháu đối với chúng. Bò lại là chuyện khác- đó là những con vật thiêng.

Dân chúng các nước này tin vào nguồn gốc thánh thần của loài người. Người thường dĩ nhiên chẳng thể lí giải được thế nghĩa là thế nào. Từ nhỏ họ đã thuộc lòng các điều sơ thiểu của Phật giáo, họ không hiểu nhiều luận điểm khoa học sâu sắc của học thuyết vĩ đại của Đức Phật, trong khi đó lại biết các thuật ngữ như: “thiền định”, “con mắt thứ ba”, lòng từ bi. Thường dân các nước này trước hết chân thành tin vào sự vĩ đại của nhận thức tôn giáo về thế giới và tin chắc vào sự cần thiết phát triển tâm linh, còn đáp lại câu hỏi về thực chất của giáo lý thì họ vì kém phát triển và ngôn ngữ nghèp nàn chắc chắn sẽ trả lời: “cái đó phức tạp lắm”.

Theo cách nhìn của tôi Phật giáo là tín ngưỡng thế giới mang tính khoa học sâu sắc hơn cả, người thường và cả các học giả không dễ gì lĩnh hội bởi các biểu tượng của nó bị vật chất hóa quá mức.
...
Mọi người khác nhau và quan điểm của họ về vai trò của các yếu tố vật chất và tinh thần trong đời sống cũng không giống nhau. Dù vậy, mọi người vẫn giống nhau dù chỉ với một nghĩa là họ có chung một nguồn gốc. Tất nhiên mải quay cuồng với cuộc sống và những vấn đề đời thường, mấy người suy nghĩ sâu xa. Nhưng bất kể ai, kể cả người ít học nhất cũng thắc mắc không biết tổ tiên họ là ai ?

Chương II 

CÓ THỂ LÀM CON NGƯỜI SỐNG LẠI ĐƯỢC KHÔNG

Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã xem bộ phim về Chúa Giê-su, cảnh ngài ra hiệu bằng tay làm người ta sống lại hoặc chữa lành bệnh. Dưới ánh sáng những kiến thức thu nhận được trong chuyến đi thám hiểm và thành tựu khoa học hiện đại, chúng ta cần hiểu hiện tượng đó như thế nào ?

Logic có thể hình dung được là: Giê-su (nhà tiên tri) có thể mang linh hồn của người thuộc nền văn minh trước đây và có tiềm năng tinh thần cao hơn, đã dùng các trường xoắn mạnh mẽ, tích cực của mình tháo lơi các trường xoắn tiêu cực (là đặc trưng của bệnh tật và chết chóc) về phía tích cực. Nói bằng ngôn ngữ nhà Phật, ngài đã giải phóng tâm hồn và thể xác người ta khỏi tâm năng tiêu cực. Thể astral của linh hồn giải thoát khỏi các trường xoắn ngay lập tức tác động đến sự chuyển hóa của các mô và qua đó cơ thể hết bệnh. Hồn sau khi lìa khỏi thân xác do chết, có thể quay lại cơ thể và làm nó sống lại. Có lẽ các nhà ngoại cảm và những người chữa bệnh kiểu tương tự như vậy đã áp dụng nguyên lý đó.

Giê-su đã sử dụng mãnh lực nào để chiến đấu với tâm năng tiêu cực ? Sự hồi sinh khác với hiện tượng ra khỏi trạng thái xô-ma-chi ở chỗ nào ? Cơ chế hồn nhập lại thân xác như thế nào ?

Tới đây xin phép được bổ sung dữ liệu do chuyên gia trường vật lý, tôi và Va-len-chi-na Ia-cốp-lê-va soạn :
Sinh, tử và xô-ma-chi có nhiều nguyên tắc chung và đồng thời hoàn toàn đối lập.

Khi Sinh : đứa trẻ được truyền sang một số bộ phận cấu thành phần linh hồn, tức là các trường có tần số thấp đảm bảo thể xác hoạt động theo kiểu “người thực vật”.

Với cái hít vào đầu tiên của đứa bé, hồn nhập vào thể xác bé, nó cho khởi động thể trí (khả năng suy nghĩ, tư duy), bộ phận đầu thai của linh hồn (trí nhớ về các kiếp trước), v.v… Não bộ bắt đầu hoạt động và tháo lơi các trường xoắn của linh hồn. Con người trở nên con người. Đứa bé chưa phải là đứa con của bạn, vì còn phụ thuộc hồn nào sẽ nhập vào nó.

Sự phát triển tinh thần của con người thuộc nền văn minh của chúng ta bắt đầu từ số không. Ví sao vậy ? Nền văn minh trước đây của người Át-lan đã sử dụng các kinh nghiệm tiếp thu được, do tiếp cận với Trường thông tin toàn thể, không chỉ vào việc Thiện, mà cả điều Ác. Vì thế, khi nhập vào thể xác đứa trẻ của nền văn minh chúng ta, hồn tách khỏi trường thông tin toàn thể. Đấy chính là biểu hiện của nguyên lý “SoHm” – hãy tự thể hiện mình. Hồn của con người ngày nay chỉ có những khả năng, tức tiềm năng khởi thủy, do các kiếp trước định đoạt (luân hồi). Những đứa trẻ thiên tài là do khi sinh ra thể xác đã thu nạp cái hồn chưa mất hẳn mối liên hệ với Trường thông tin toàn thể, tức nhiều hay ít có sự vi phạm nguyên tắc “SoHm”.

Khi Chết : hồn lìa khỏi xác, vẫn liên hệ với thân thể, có lẽ trong thời hạn 40 ngày. Mối liên hệ này, mà nhờ đó, hồn có thể tìm ra xác được gọi là “sợi chỉ bạc”. “Sợi chỉ bạc” – đó là nguyên tắc của Đấng Trí Tôn, cho phép hy vọng đến cùng hồn sẽ quay về với thân xác của nó. Khi ngủ say, hồn “dạo chơi”, nhưng vẫn giữ “sợi chỉ bạc” với thân xác. Bởi vậy, không nên đánh thức đột ngột người đang ngủ say, vì hồn có thể không kịp tìm ra xác của mình. Cũng vì lý do đó, đánh thức con trẻ là có tội.

Ba ngày sau khi chết đến lượt thể acther ra đi, chín ngày sau là thể astral. Thể xác có thể sống lại, nếu hồn quay lại đó. Não có nhiệm vụ tháo lơi các trường xoắn của linh hồn không thể hoạt động thiếu phần hồn. Bảo toàn thể xác, trước tiên là bộ não, có thể thực hiện được ở nhiệt độ +4oC. Nhiệt độ +4oC thường thấy ở nơi hang động : ở nhiệt độ này nước trở nên đậm đặc hơn.

Trong trạng thái xô-ma-chi : “sợi chỉ bạc” nối phần hồn với phần xác được bảo toàn vô thời hạn hàng nghìn, hàng triệu năm. Việc kéo dài thời hạn xô-ma-chi không chỉ phụ thuộc vào mức độ bảo toàn của thể xác mà còn do Đấng Trí Tôn quyết định giữ hay cắt đứt “sợi chỉ bạc” nối phần hồn với phần xác.

Có thể kéo dài trạng thái xô-ma-chi ở nhiệt độ +4oC hay gặp trong hang động và dưới nước. Hình như có được trạng thái bất động như đá (tức rắn lại) là do trạng thái nước trong mô thay đổi. Ở nhiệt độ +4oC nước không chỉ có độ đậm đặc hơn cả mà còn chuyển sang một trạng thái đặc biệt. Ta biết nước có ba dạng : lỏng, khí và rắn. Nhiều khả năng là ở trạng thái xô-ma-chi như Va-len-chi-na Ia-cốp-lê-va quan niệm, nước chuyển hóa sang dạng thứ tư mà khoa học chưa biết tới. Chính trạng thái thứ tư của nước trong mô đã làm ngưng mọi quá trình trao đổi chất và chuyển các mô của người sang trạng thái rắn hơn, mà không phá hủy các tổ chức này. Các trường xoắn tích cực có khả năng chuyển nước của cơ thể sang trạng thái này dưới tác dụng của tham thiền, có thể chuyển thông tin về sự biến đổi trạng thái nước và ngừng chuyển hóa.

Nước chuyển thông tin như thế nào ? Xung quanh vấn đề này có nhiều giả thuyết. Nhưng chắc là có một nguyên tắc truyền tin rất sâu kín. Chúng ta biết rằng vũ trụ gồm chủ yếu là nước. Trường thông tin toàn thể, mà chủ yếu có tính chất sóng, hình như cũng có liên hệ với sóng. Có thể dự đoán rằng, việc truyền tin bằng sóng được thực hiện thông qua hydro của nước. Các trường xoắn của linh hồn có lẽ cũng có thể tác động lên khinh khí của nước.

Khi Luân hồi : hồn nào yếu hơn sẽ bị “đuổi” khỏi thể xác và một hồn khác mạnh mẽ hơn sẽ thế chỗ.
- “Theo ngài, con người ngày nay thiếu cái gì ? “– tôi hỏi
- “Con mắt thứ ba”.

Chương III 

LẠI CHUYỆN VỀ “CON MẮT THỨ BA” 
- “Đạo Phật”,- tôi bắt đầu kể,- “chia mắt thành 5 loại :

1. Mắt bằng xương bằng thịt (fleshly eye), tức hai con mắt bình thường của chúng ta.

2. Mắt tiên tri (divine eye), tức con mắt có thể nhìn xa trông rộng. Nói cách khác, có thể sử dụng con mắt này để nhìn vào Trường thông tin toàn thể và kết quả là có thể dự đoán điều gì đó.

3. Con mắt anh minh (wishdom eye), tức con mắt giúp ta nhìn vào phần hồn của chính mình và phân tích để nhận ra chân lý : sự sống trước hết là tâm hồn chứ không phải thể xác của bạn.

4. Cặp mắt của Dhamma (Dhamma eye), tức cặp mắt giúp thực hiện giáo lý của Đức Phật, mà theo tôi có thể hiểu là khả năng lĩnh hội học thuyết của Đức Phật vốn rất phức tạp.

5. Đôi mắt của Phật (Buddha eye), tức đôi mắt của bậc Thầy. Tôi nghĩ có thể hiểu đó là cặp mắt của con người được bí truyền kinh nghiệm của các nền văn minh trước đây.

- “Sao, con người có thể cùng một lúc có năm con mắt ư ?” – cô gái I-xra-en hỏi.
- “Theo tôi, “con mắt” trong đạo Phật được hiểu là khả năng cảm nhận và phân tích các trạng thái nội tâm”.
- “Vậy Đức Phật có đôi mắt như thế nào ?” - cô gái I-xra-en chưa chịu im
- “Theo như một học giả lớn của Tây Tạng (ngài Minh) cho biết, thì chỉ Đức Phật mới có “con mắt thứ ba”, ở người thường con mắt này kém phát triển. Nhưng “con mắt thứ ba” không bao giờ giống con mắt, ngay của Đức Phật cũng vậy. Nhưng người ta biết có con mắt đó, vì ở vùng trán của ngài từng đợt phát ra tia sáng. Nhờ tia sáng này, Đức Phật đã tập hợp mọi người đến nghe ngài thuyết giáo. Tia phát ra từ trán Đức Phật có thể có năm màu : trắng, xanh lam, xanh lục, vàng, đỏ”.
- “Ôi, kỳ lạ quá”, - cô gái I-xra-en nói.
- “Cậu “Nga mới” sau khi nghe Va-len-chi-a dịch liền hỏi.
- “Trên trán Đức Phật có nguồn ánh sáng à ?”
- “Theo tôi, đó là hiệu quả biến đổi tâm năng thành năng lượng ánh sang”,- Va-lê-ri Lô-ban-cốp đáp,- “có lẽ mọi người đã nghe nói đến thuật điều khiển từ xa, dùng năng lượng có thể di chuyển, chẳng hạn cái cốc trên bàn. Tựa như vậy, năng lượng tinh thần có thể cho hiệu quả ánh sáng.”
- “Xin ông kể tỉ mỉ về “con mắt thứ ba”. Dù sao thì tôi đến đây cũng là để phát triển con mắt đó,”- cô gái Ai-len nài nỉ.
- “Con mắt thứ ba” là một bộ phận của não bộ”,- Va-lê-ri Lô-ban-cốp kể. – “Nếu não tháo lơi các trường xoắn của tâm hồn thì “con mắt thứ ba” điều chỉnh phần cấu thành tâm hồn sang tần số của các trường xoắn. Có thể nói tới ba chức năng của “con mắt thứ ba” :

- Chức năng trí tuệ, tức điều chỉnh sang tần số liên lạc với Đấng Trí Tôn. Hình như các Bậc được bí truyền (ví dụ như E-lê-na Bờ-la-vát-cai-a) đã sử dụng “con mắt thứ ba” phát triển của họ và có thể tự điều chỉnh sang các tần số của Trường thông tin toàn thể.

- Chức năng tham thiền, tức điều chỉnh sang tần số có cấp độ khác nhau của các trường xoắn của chính tâm hồn mình. Được biết, có 112 kiểu tham thiền, có nghĩa là phải có sự điều chỉnh riêng phù hợp với tần số của mỗi kiểu.
- Chức năng thị giác bên trong, tức điều chỉnh sang tần số các trường xoắn của các cơ quan khác nhau, kết quả là có thể nhìn thấy bộ phận cơ thể và các căn bệnh của chúng.
- “Ở trẻ em, “con mắt thứ ba” tồn tại như một cơ quan thô sơ, đó là kỷ niệm về “con mắt thứ ba” đã phát triển ở những người thuộc các nền văn minh trước đây”,- Va-lê-ri tiếp tục kể,- “các vị hãy nhớ lại tư liệu thư tịch Hy Lạp và La Mã cổ đại kể rằng, người Át-lan chỉ nhìn mà có thể di chuyển những khối đá khổng lồ. Hiểu như thế nào đây ? Bằng “con mắt thứ ba” của mình, họ có thể tự điều chỉnh sang tần số các trường của đá và tháo lơi các trường xoắn, sao cho chúng ngăn cản lực hấp dẫn. Lúc đó, khối đá như thể nhẹ đi, còn sau khi thay đổi hướng tháo lơi các trường xoắn của đá có thể di chuyển chúng”.
- “Để giải đáp câu hỏi “con mắt thứ ba” đã phát triển và thái hóa như thế nào cần phải biết lịch sử phát triển các chủng tộc loài người. Sách báo nói về vấn đề này chủ yếu như nhau cả, chỉ có E-lê-na Bờ-la-vát-cai-a trong cuốn “Học thuyết bí ẩn” là nói rõ hơn cả. Với E-lê-na Bờ-la-vát-cai-a khái niệm “chủng tộc loài người” được hiểu không phải là các dân tộc mà là các nền văn minh. Chẳng hạn chủng tộc thứ Nhất đó là nền văn minh của những con người trên trái đất. Trong cuốn sách đề cập nguồn kiến thức của mình, bà viết như thể có ai đó đọc cho bà ghi. Bà hoàn toàn tin rằng, thông qua bà, Đấng Trí Tôn đã chuyển cho người ngày nay các dữ liệu về lịch sử phát triển loài người trên trái đất. Tôi không có cơ sở để không tin bà, bởi những gì bà đã viết trong cuốn sách của bà trùng khớp với các và thông tin khoa học. Đây là một công trình cơ bản nhất. Bờ-la-vát-cai-a viết rằng, trước chúng ta, trên trái đất có bốn chủng tộc người. Chủng tộc chúng ta là thứ Năm.
- “Như vậy là trên trái đất, theo Bờ-la-vát-cai-a đã có năm chủng tộc người, chúng ta là thứ Năm”,- tôi nói tiếp.- “Sự sống trên trái đất xuất hiện do vật chất cô đặc mấy triệu năm về trước. Con người, động vật và thực vật xuất hiện đồng thời”. Chủng tộc sau có nguồn gốc từ chủng tộc trước :

+ Chủng tộc người đầu tiên, gọi là “tự sinh” đã xuất hiện trên trái đất dưới dạng những thể nhẹ nhàng do thế giới tâm linh tức thế giới của năng lượng tinh thần cô đặc. Đó những người giống như thiên thần, có thể dễ dàng đi qua tường và các vật rắn khác. Trông họ như các hình hài không xương thịt, tự phát sáng như ánh trăng và có chiều cao 40 - 50 mét. Vật thể mềm mại nguyên sinh của con người thuộc chủng tộc thứ Nhất được cấu tạo không bằng thứ vật chất như của người trần mắt thịt chúng ta, nó có tính sóng nhiều hơn. Họ là những người một mắt; chức năng con mắt duy nhất này lại thuộc cái tương tự “con mắt thứ ba” đảm nhiệm việc liên hệ từ xa với thế giới xung quanh và Đấng Trí Tôn. Người chủng tộc đầu tiên sinh sản vô tính, bằng cách phân chia và đâm chồi. Họ không có ngôn ngữ, giao tiếp bằng cách “truyền ý nghĩ”. Họ có thể sống ở mọi nhiệt độ.

+ Chủng tộc thứ Hai, gọi là “người không xương”, xuất hiện thay thế chủng tộc đầu tiên. Những người này cũng giống ma, nhưng đặc hơn chủng tộc thứ Nhất. Họ cũng chỉ có một mắt và giao tiếp bằng cách truyền ý nghĩ. Người chủng tộc thứ Hai vàng óng ánh. Sinh sản bằng cách đâm chồi và hình thành bào tử, nhưng cuối giai đoạn sống của chủng tộc người thứ Hai xuất hiện người ái nam, ái nữ tức là người đàn ông và người đàn bà ở trong cùng một thân thể.

+ Chủng tộc người thứ Ba, gọi là “Lê-mu-ri”, thay thế chủng tộc người thứ Hai, chia thành Lê-mu-ri sơ kỳ và Lê-mu-ri hậu kỳ.

Người Lê-mu-ri sơ kỳ cao đến 20 mét và thể xác của họ đặc hơn nhiều nên không thể gọi như ma được nữa. Họ có xương. Người lưỡng giới này tích lũy dần các dấu hiệu nam tính, trường hợp khác dấu hiệu nữ tính, kết quả là có sự phân chia giới và xuất hiện sinh sản sinh dục. Người Lê-mu-ri có hai mặt và bốn tay. Hai mắt ở phía trước, “con mắt thứ ba” ở đằng sau như thể họ có hai bộ mặt vậy. Hai tay “phục dịch” phần trước thân thể, hai tay “phục dịch” phần sau. Hai con mắt phía trước có chức năng thị giác, mắt sau chủ yếu là thị giác tinh thần. Họ có màu vàng óng ánh. Giao tiếp bằng cách truyền ý nghĩ.

Lê-mu-ri hậu kỳ hoặc Lê-mu-ri – Át-lan là những người phát triển cao hơn cả trên trái đất, có trình độ công nghệ rất cao. Ví dụ công trình của họ có thể bao gồm tượng Nhân sư ở Ai Cập, khu phế tích khổng lồ Xô-lu-bê-ri (nước Anh), một số tượng ở Nam Mỹ, v.v… Chiều cao người Lê-mu-ri hậu kỳ là 7-8 mét. Họ có hai mắt và hai tay. “Con mắt thứ ba” tụt vào trong sọ. Nước da có màu vàng hoặc đỏ. Họ nói thứ tiếng đơn âm mà hiện nay dân chúng vùng Đông-Nam của trái đất vẫn sử dụng. E. Bờ-la-vát-cai-a cho rằng con cháu của người Lê-mu-ri hậu kỳ là thổ dân đầu phẳng của Châu Úc, họ đã sống sót và phát triển theo hướng hoang hóa trên lục địa Úc biệt lập từ thời xa xưa.

+ Chủng tộc thứ Tư là người Át-lan. Người Át-lan có hai mắt thể chất, còn “con mắt thứ ba” nằm sâu trong sọ, nhưng hoạt động tốt. Họ có hai tay. Cao 3 - 4 mét, nhưng đến cuối giai đoạn sinh tồn của người Át-lan, họ nhỏ đi. Một bộ phận người Át-lan có màu da vàng, một bộ phận màu đen, một bộ phận nâu và một bộ phận màu đỏ. Vào các thời kỳ cuối cư dân Át-lan-tích phần lớn là người Át-lan da vàng và da đen, họ đánh nhau thường xuyên. Ban đầu họ nói thứ tiếng ngưng kết, hiện giờ một vài bộ lạc thổ dân Nam Mỹ vẫn dùng. Sau này phát triển dần thành ngôn ngữ biến hình tức ngôn ngữ phát triển cao, là cơ sở của các ngôn ngữ hiện đại. Ngôn ngữ biến hình của người Át-lan là gốc gác của tiếng Phạn bây giờ là ngôn ngữ thần bí của các Bậc được bí truyền.

Nền văn minh của người Át-lan khá cao. Họ tiếp nhận kinh nghiệm bằng cách nhập vào Trường thông tin toàn thể, họ biết thôi miên từ xa, truyền ý nghĩ qua khoảng cách, có thể tác động lên lực hấp dẫn, có các thiết bị bay (vi-ma-na), xây dựng các ngẫu tượng bằng đá trên đảo Pát-khi, kim tự tháp Ai Cập và nhiều đài kỷ niệm thời cổ đại thần bí khác.

+ Chủng tộc người thứ Năm, tức chủng tộc chúng ta, trong thư tịch thần bí gọi là chủng tộc A-ri-ăng, xuất hiện khi vẫn còn người Át-lan hậu kỳ. Một bộ phận lớn chủng tộc thứ Năm trở nên hoang dã và không thể sử dụng kinh nghiệm của người Át-lan để tự phát triển. Người chủng tộc thứ Năm ban đầu cao đến 2 - 3 mét, sau nhỏ dần. “Con mắt thứ ba” hoàn toàn không còn chức năng gì, kết quả là mất liên lạc với Trường thông tin toàn thể và không thể sử dụng được những kinh nghiệm thu nhận được từ đó. Người chủng tộc thứ Năm dần dần có ngoại hình của người ngày nay.
- “Vậy là hai chủng tộc đầu tiên (người một mắt)”, - tôi nói tiếp,- “chỉ có cái mà ta gọi là “con mắt thứ ba” và chỉ sử dụng mỗi cái đó trong cuộc sống. Chủng tộc thứ Ba (có hai mặt) ngoài “con mắt thứ ba” ở sau gáy còn có hai mắt thể chất phía trước được dùng để nhìn thế giới vật thể và hỗ trợ “con mắt thứ ba”. Ở người chủng tộc thứ Tư (người Át-lan), “con mắt thứ ba” tụt vào trong sọ nhưng chức năng vẫn còn.. Đến chủng tộc thứ Năm (chúng ta), “con mắt thứ ba” còn lại là cơ quan thô sơ gọi là đầu xương. Nhưng có xu hướng là chủng tộc chúng ta lại phát triển “con mắt thứ ba”. Người Át-lan khi cảm thấy “con mắt thứ ba” thái hóa đã cố kích thích nhân tạo. Còn chúng ta bây giờ cũng có trường lớp dạy tham thiền, mà như chúng ta biết, chính là để phát triển chức năng của “con mắt thứ ba”. Và chị đến đây cũng là để tăng cường hoạt động của “con mắt thứ ba” của mình”,- tôi nói và nhìn sang cô gái người Ai-len.
- “Tại sao lại gọi là “con mắt thứ ba”, nếu nó nằm trong sọ ? “– cô gái Ai-len hỏi.
- “Các nhà giải phẫu thấy rằng, trong quá trình phát triển phôi, “con mắt thứ ba” đã hình thành theo đúng kiểu con mắt”.

Chuyện đó rõ quá, vì hai chủng tộc đầu tiên chỉ có mỗi một mắt, chính con mắt mà chúng ta gọi là “thứ ba” đấy. E. Bờ-la-vát-cai-a cũng đã chỉ ra điều đó. Tâm linh phát triển càng cao thì đầu xương, vốn là “con mắt thứ ba”, càng phát triển.

TTđTD (sưu tầm)

1 nhận xét:

Nặc danh nói...

caccum vat ly' ?