Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Những mối đe dọa của Đồng bằng sông Cửu Long

1.  Thay đổi khí hậu sẽ nhấn chìm Đồng bằng sông Cửu Long?
(Will climate change sink the Mekong Delta?)

Lời giới thiệu của người dịch: Đây là loạt bài của David Brown, một viên chức ngoại giao làm việc tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn trước năm 1975, phân tích về những mối đe dọa mà Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam đang đối mặt. Những mối đe dọa này – dù có thể thấy trước mắt (những dự án phát triển thủy điện và thủy nông ở thượng nguồn sông Mekong) hay chỉ là những suy đoán “mờ mịt” cho nhiều thập niên trong tương lai (ảnh hưởng của thay đổi khí hậu, mực nước biển dâng…) hay là những điều cấm kỵ của chế độ (chánh sách phát triển sai lầm và thiển cận của Hà Nội sau chiến thắng 1975) – là có thật và cần có những giải pháp cấp thời và hữu hiệu để cứu vãn “vựa lúa của cả nước”. Tuy là một nhà ngoại giao, những ý kiến của tác giả khá trung thực và chính xác về mặt khoa học, rất đáng để những người có trách nhiệm hiện nay suy ngẫm và thực hiện.
(Bình Yên Đông)


Không có đồng bằng nào trên thế giới bị thay đổi khí hậu đe dọa nhiều hơn. Liệu Việt Nam sẽ hành động kịp thời để cứu vãn?

Các nhà khoa học cho rằng mực nước biển dâng lên 1 m vào cuối thế kỷ sẽ khiến cho 3,5-5 triệu cư dân Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) dời chỗ. Mực nước biển dâng lên 2 m có thể buộc gấp 3 số người đi đến vùng cao hơn.
Những thay đổi về mưa và lũ lụt cũng đe dọa một trong những môi trường sản xuất nông nghiệp trù phú nhất trên thế giới.
Chánh quyền Việt Nam ở Hà Nội hiện nay có trách nhiệm chấp thuận một kế hoạch tổng thể để thích ứng và giảm thiểu thiệt hại (comprehensive adaptation and mitigation plan).

Đây là bài đầu tiên trong một loạt 4 bài phân tích chi tiết nhằm tìm hiểu những mối đe dọa đối với ĐBSCL và làm thế nào để đối phó.

Một thực tế đáng buồn là đã có nhiều thập niên để nói về thay đổi khí hậu nhưng vẫn chưa có những nỗ lực nghiêm chỉnh để thích ứng với hiện tượng hầu như không thể tránh được này. Theo các nhà tâm thần học vì chúng ta là con người. Chúng ta không theo kịp những đe dọa to lớn, phức tạp và diễn biến chậm. Phản ứng theo bản năng của chúng ta là thờ ơ, chớ không hành động. Nghịch lý đó ở trong trí của tôi trong suốt thời gian trở lại ĐBSCL thần thoại và trù phú của Việt Nam, một đồng bằng sũng nước rộng bằng Thụy Sĩ. Đây là nơi sinh sống của 20% dân số 92 triệu người Việt Nam và đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi thay đổi khí hậu và nhân tai, dường như do việc xây đập không ngừng nghỉ trên thượng nguồn sông Mekong.

Samuel Johnson từng nổi tiếng khi nói rằng “không có gì gây ấn tượng cho bằng sắp sửa bị treo cổ”. Đã 9 năm kể từ khi nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới xem ĐBSCL như là một trong những nơi trên hành tinh bị đe dọa nghiêm trọng bởi mực nước biển dâng. Nếu ở nơi khác, tôi tưởng tượng, tôi có thể cảm thấy sự khẩn trương. Tôi sẽ tìm trước những biện pháp thích ứng.

Tôi đã sai. Các bộ trong Chánh phủ Việt Nam, chánh quyền địa phương, chuyên viên ở các trường đại học và tổ chức quân sư Việt Nam, chuyên viên của Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Á Châu và các chánh phủ ngoại quốc: tất cả đang đưa ra những kế hoạch và chánh sách. Vấn đề là phải lựa chọn những ý tưởng tốt nhất, có quyết định thích hợp và tìm tài nguyên cần thiết để thực hiện một cách chặt chẽ và đúng lúc.

Mọi việc cuối cùng có lẽ đã đến, tôi kết luận sau khi nói chuyện với một số quan chức địa phương, giáo sư, phóng viên và nông dân vào giữa tháng 6. Không ai phủ nhận thực tế của vấn đề. Nhiều người còn liên kết câu hỏi làm thế nào với thay đổi khí hậu với những tranh luận trước đây về những cách tốt nhất để canh tác tốt hơn và nhiều hơn.

Một số người nói chuyện với tôi mong rằng Chánh phủ mới của Việt Nam sẽ tiết lộ chiến lược của Chánh phủ vào cuối năm 2016. Họ hy vọng Hà Nội sẽ làm đúng. Việt Nam là một quốc gia độc đảng. Khi một chánh sách được chấp thuận và truyền xuống, rất khó để thay đổi đường lối. Tuy nhiên, nếu các biện pháp không hợp lý cho 13 tỉnh của ĐBSCL, các đại diện đảng/nhà nước/địa phương có thể không thi hành. Ở Việt Nam, rất thường thấy những viên chức thiếu lương tâm, thực hiện những biện pháp của Hà Nội theo cách thông thường, không có trách nhiệm, và sau cùng, không có kết quả.

Vì nguy cơ rất cao, giả sử rằng chỉ có một câu trả lời đúng: trong vài tháng sắp tới, Hà Nội sẽ chấp thuận một kế hoạch tổng thể để thích ứng và giảm thiểu thiệt hại cho 13 tỉnh ĐBSCL, và các tỉnh đủ hài lòng để thực hiện nó. Ít hơn thế sẽ là một kết quả thảm khốc.


Hình trái: Sông Mekong và lưu vực. Sông bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng ở Trung Hoa, có tên là Lan Thương (Lancang); nó chảy qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam. Hình phải: Hạ lưu vực sông Mekong. [Ảnh: Wikipedia and Penprapa Wut/Wikimedia Commons].

Sự thịnh vượng mong manh

Cao độ trung bình của ĐBSCL cao hơn mực nước biển không quá 2m. Hầu hết rất thích hợp để trồng lúa. Nông dân cũng trồng cây ăn trái và dừa và nuôi tôm cá. Thu hoạch của họ phong phú nhờ có lũ lụt hàng năm và hệ thống kinh rạch chằng chịt, đập và cống.

Đó là một môi trường được kiến tạo cao, một xã hội được thủy lợi hóa hiện đại dựa trên thâm canh và cơ sở hạ tầng phản ánh lũ lụt, xâm nhập của nước mặn, giao thông thủy và ngư nghiệp, và cung cấp đủ nước ngọt cho thủy nông [?]. Dĩ nhiên, không phải lúc nào cũng thế. Khi những người Việt đầu tiên định cư ở ĐBSCL cách đây 300 năm, họ đương đầu với địa hình thay đổi bởi gió mùa, bão tố, thủy triều và lũ lụt hàng năm của sông Mekong. Các quan lại triều đình, và sau đó là các kỹ sư thuộc địa người Pháp, đã huy động hàng ngàn người tiên phong để đào kinh dẫn thủy và thoát thủy. Theo thời gian, công việc xây dựng cơ sở hạ tầng được cơ giới hóa. Nhiều thập niên chiến tranh làm chậm việc thuần hóa ĐBSCL, nhưng ngay trong những năm “Chiến tranh Chống Mỹ (American War)” cũng có cải cách ruộng đất và du nhập cái gọi là “lúa thần kỳ (miracle rice)” – một giống lúa có thể cho gấp đôi năng suất nếu có đủ nước, phân và thuốc trừ sâu.

Trực thăng võ trang trên ĐBSCL năm 1967. Ảnh: ManhHai/Flickr.

Các viên chức miền Bắc vào Nam sau khi chánh quyền miền Nam sụp đổ năm 1975 có ý định cải cách nông nghiệp theo kiểu Xô Viết, như họ đã làm ở Đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc. Tuy nhiên, tập thể hóa không mang lại kết quả. Nông dân không chăm sóc những thửa ruộng hợp tác xã giống như họ chăm sóc hoa màu trên đất riêng của họ. Mười năm sau, Hà Nội thừa nhận thất bại của kế hoạch tập trung, tái phân phối đất nông nghiệp và cho phép kinh tế tư nhân hoạt động cùng với các công ty quốc doanh.

Những cải cách gọi là “đổi mới” này đã đưa đến sự phát triển kinh tế đáng ngạc nhiên cho Việt Nam trong ¼ thế kỷ. Đối với ĐBSCL, tiền cho vay và viện trợ từ các quốc gia Tây Phương tài trợ cho việc sửa sang và nới rộng cơ sở hạ tầng thủy lợi. Sự du nhập các loại lúa cao sản, nới rộng diện tích trồng lúa và chú trọng vào việc trồng hai mùa, và nhiều nơi, ba mùa khiến cho sản lượng lúa gia tăng nhanh chóng, từ 7 triệu đến 24 triệu tấn mỗi năm. Việc Việt Nam hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu mở rộng thị trường cho lúa gạo và các nông sản mới – đặc biệt là tôm và cá tra nuôi trong ao hồ.

Dĩ nhiên là có những hoài nghi về tính bền chắc (sustainability) của sự thịnh vượng chưa hề có này. Một số nhà khoa bảng thắc mắc về sự khôn ngoan của việc tập chú không ngừng vào việc độc canh lúa. Họ nói rằng trong những vùng không còn bị ngập lụt hàng năm, cần phải có một số lớn phân hóa học và thuốc trừ sâu để duy trì sản lượng. Nhiều nông dân than phiền rằng Công ty Lương thực miền Nam của nhà nước hưởng lợi từ việc buôn bán lúa gạo của họ trồng. Khi nền kinh tế lương thực của quốc gia chuyển từ khan hiếm qua dư thừa, Hà Nội vẫn tiếp tục chú tâm đến “an toàn lương thực (food security)” – có nghĩa là, ở ĐBSCL, dành riêng hơn ½ đất canh tác cho việc trồng lúa – càng ngày dường như càng lỗi thời.

Nhưng, khi sản lượng lương thực và xuất cảng tăng hàng năm, có thể tưởng rằng thịnh vượng sẽ thường trực với ĐBSCL. Chỉ mong rằng những cảnh báo của các nhà nghiên cứu thay đổi khí hậu, các đập khổng lồ đang được xây cất ở thượng lưu, và lợi tức thấp triền miên của nông dân trồng lúa sẽ không bao giờ đến.

Cồng báo động: tương lai đã đến

Đã nhiều năm, Dương Văn Ni và các công sự ở Đại học Cần Thơ đã cảnh báo mọi người có quan tâm đến những thay đổi của ĐBSCL. Dữ kiện đã có và có tính thuyết phục.

Vào một buổi chiều giữa tháng 6, khi mưa mùa đập trên mái tôn của quán cà phê ở gần trường, Giáo sư (GS) Ni chỉ cho tôi trường hợp (scenario) mà nhân viên của DRAGON (Delta Research and Global Observation Network (Hệ thống Quan sát Toàn cầu và Nghiên cứu Đồng bằng)) đã thực hiện và trình bày với vô số cử tọa. Nó kết hợp hơn 100 năm dữ kiện khí hậu và thủy học với hệ thống GIS (geographic information system) và dữ kiện viễn thám do Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (U.S. Geological Survey (USGS)) cung cấp.

Ảnh ĐBSCL chụp từ vệ tinh của NASA.

Không có một vùng đồng bằng nào – không phải cửa sông Ganges, sông Nile hay sông Mississippi – dễ bị tổn thương hơn cửa sông Mekong đối với những ảnh hưởng thay đổi khí hậu được tiên đoán. Mực nước biển dâng 1 m được dự đoán vào cuối thế kỷ 21st, mọi thứ khác giống nhau, sẽ dời chỗ từ 3,5 đến 5 triệu người. Nếu mực nước biển dâng lên 2 m, và nếu không có những biện pháp đối phó có hiệu quả, khoảng 75% dân số 18 triệu của ĐBSCL sẽ phải dời lên chỗ cao hơn.

GS Ni nói, lượng mưa vào đầu mùa mưa năm nay đã giảm đáng kể, và sẽ có nhiều mưa vào cuối mùa. Đỉnh lũ của sông Mekong giảm 1/3 kể từ năm 2000. Nước từ thượng nguồn chứa ít phù sa để bồi đắp vùng ngập lụt. Khối lượng nước ngọt giảm trong khi mực nước biển dâng cao. Điều nầy khiến cho nước mặn xâm nhập càng ngày càng sâu vào các cửa sông và vùng đất ngập nước ven biển trong mùa khô.

Mô hình của khuynh hướng hiện nay cho thấy nhiệt độ trung bình của ĐBSCL sẽ tăng trên 3 oC vào cuối thế kỷ này. Lượng mưa hàng năm sẽ giảm trong nửa thế kỷ đầu, và sau đó sẽ tăng cao hơn mức trung bình của thế kỷ 20th. Vùng ngập lụt trong mùa thu không thay đổi nhiều, nhưng lũ sẽ không kéo dài.

Mọi thứ khác như nhau, năng suất lúa sẽ tụt giảm khi nhiệt độ tăng lên [?]. Mưa nhỏ trong những tháng đầu của mùa mưa là một thách thức cho sự khéo léo của nông dân. Mực nước biển dâng và lưu lượng của sông giảm sẽ là một thử thách nghiêm trọng cho hệ thống đê biển. Bờ sông và bờ biển ĐBSCL đã vỡ vụn; và nó sẽ tăng tốc. Nông dân không có khả năng đối phó sẽ di cư về phía bắc để tìm việc làm trong ngành kỹ nghệ và xây cất.

Chưa hết. Ở slide 70 (trong số 86 slides) của phần trình bày DRAGON, sự chú ý được chuyển sang việc xây cất đập ở thượng lưu đối với cơ chế thủy học của ĐBSCL. Đối với Trung Hoa, Lào và Thái Lan, tiềm năng thủy điện của sông Mekong dường như là một cơ hội phát triển không thể cưỡng lại được. Có thể tất cả các đập mà họ dự trù sẽ không được xây ngang sông chánh Mekong. Dù có một vài hay nhiều đập, ảnh hưởng của chúng đối với nông nghiệp của Việt Nam và Cambodia sẽ rất tiêu cực. GS Ni, các cộng sự của ông ở Đại học Cần Thơ, và chuyên viên ở các tổ chức khác ở miền Nam đã gióng tiếng cồng báo động trong nhiều năm. Chuỗi đập là mối nguy hiểm gần và dễ thấy hơn, và hiển nhiên thay đổi khí hậu thì không thể dừng được.

Phần trình bày của DRAGON kết thúc với lời kêu gọi hành động. Tương lai ảm đạm nhưng không phải tuyệt vọng nếu những chiến lược thích ứng và giảm thiểu thiệt hại thích hợp được đề ra. Cái mà ĐBSCL cần là: phát triển bền và chắc (sustainable development) dựa trên nền tảng hữu hiệu của an toàn nguồn nước, an toàn lương thực và an toàn xã hội.

2. Việt Nam vô cùng lo lắng vì Trung Hoa và Lào xây đập sông Mekong
(Vietnam sweats bullets as China and Laos dam the Mekong)


Vài nét chấm phá

Lào mong muốn trở thành “bình điện của Châu Á”, những nhà xây đập Trung Hoa cũng có ý định như thế. Liệu Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam (ĐBSCL) sẽ trụ được trông cuộc đấu tranh sống còn?

Sông Mekong là mạch sống của Đông Nam Á. Nó chảy qua 6 quốc gia và ảnh hưởng đến đời sống của khoảng 60 triệu người.

Trung Hoa và Lào đang xây đập ngang sông ở nhiều nơi. Và Thái Lan đang có kế hoạch chuyển nước với quy mô lớn có thể ảnh hưởng thêm đến dòng chảy của sông.

Vẫn chưa rõ các đập ở Lào có thể được tài trợ hay không. Liệu Bắc Kinh có nhảy vào?

Hình trái: Sông Mekong và lưu vực. Hình phải: Hạ lưu sông Mekong. Ảnh: Wikipedia and Penprapa Wut/Wikimedia Commons.

Không có ảnh hưởng đến tương lai của ĐBSCL nào tạo nên nhiều lo lắng nghiêm trọng hơn là những dự án thủy điện trên dòng chánh Mekong, thượng nguồn của châu thổ. Một số chuyên viên Việt Nam đã cảnh báo từ nhiều năm nay. Điều đó chưa được chánh quyền Hà Nội diễn dịch sang lãnh vực ngoại giao có hiệu quả, và có thể kết luận – có lẽ đúng – rằng sự chống đối là vô ích.

Bảy đập đang được vận hành trên sông Lan Thương (sông Mekong trong lãnh thổ Trung Hoa) trong các hẻm núi dốc của tỉnh Vân Nam. Những đập khác sắp được hoàn thành ở thượng Lào, và việc xây cất sẽ bắt đầu cho một đập khác ở Don Sahong ngay phía bắc biên giới Lào-Cambodia, và 9 đập khác được dự trù – 7 ở Lào và 2 ở Cambodia.

Hãy tưởng tượng một tương lai mà nông dân ĐBSCL không còn dựa vào lũ hàng năm để đẩy mặn và nhận phân bón mới qua phù sa cuốn theo dòng nước từ núi non xa thẳm ở phía bắc. Tương lai đó đã đến. Nó được thể hiện bằng đỉnh lũ hàng năm thấp và muộn và một sự sụt giảm rõ rệt, có lẽ gần ½, lượng phù sa của sông. Khi những con đập nầy được xây trên thượng nguồn, ảnh hưởng của chúng đối với nông nghiệp ở hạ lưu và ngư trường sẽ tàn phá lũy tiến. Không một chút nghi ngờ về chuyện này.

Thử xem xét, chẳng hạn, ảnh hưởng của chuỗi đập đối với Biển Hồ, một hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á. Hiện tượng ngập lụt theo mùa của nó là một kỳ quan thủy học. Hồ nằm trong một vùng trũng bao la ở miền trung Cambodia. Nó nối với sông chánh Mekong bằng sông Sap dài 120 km. Trong mùa khô, từ tháng 12 đến tháng 6, sông Sap tháo nước ra khỏi hồ. Rồi, khi mưa mùa đến và sông Mekong dâng lên, sông Sap chảy ngược lại, và 20% nước lũ sông Mekong chảy vào Biển Hồ. Diện tích hồ mở rộng từ 2.700 km2 lên 16.000 km2 và dung tích của nó tăng 80 lần.

Bằng cách này, Biển Hồ đã điều hòa nguồn nước của ĐBSCL đủ lâu cho người dân canh tác ở đó (và chắc cho những thời đại trước đó), làm giảm và kéo dài đợt lũ. Nhưng khi đập được xây trên các nhánh trung lưu sông Mekong, Biển Hồ có thể sẽ không được làm đầy như trước trong mùa mưa hay không tháo nước đúng cách trong mùa khô. Nếu, và khi, điều đó xảy ra, nhịp điệu thủy học của ĐBSCL sẽ chấm dứt, và cùng với nó, là những nền móng kiến tạo cao độ của nền nông nghiệp.

Một con thuyền ở ĐBSCL. Photo by Mariusz Kluzniak/Flickr.

Nhân tai đang bộc lộ chậm rãi

Mặc dù Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam cam kết trong năm 1995 để “hợp tác trong việc duy trì dòng chảy trên sông chánh… và cho phép một lưu lượng chảy ngược tự nhiên vào Biển Hồ có thể chấp nhận được trong mùa mưa”, trên thực tế chánh trị quốc tế, Lào có tay roi: Thái mâu thuẫn; và các quốc gia hạ lưu, Việt Nam và Cambodia chỉ có thể phản đối chiếu lệ.

Vấn đề trở nên nghiêm trọng trong năm 2011. Vào lúc đó, trong các phiên họp của Ủy hội sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)), các bộ trưởng và nhân viên ngoại giao cao cấp từ các quốc gia duyên hà cứu xét việc khởi công xây cất đập và nhà máy thủy điện có công suất 1.250 MW ở Xayaburi, một thị trấn ở bắc Lào. Được Cambodia ủng hộ, Việt Nam lập luận rằng việc xây cất phải được hoãn lại 10 năm để nghiên cứu ảnh hưởng của nó ở hạ lưu. Đại diện của Thái Lan tỏ ra lúng túng một cách khó chịu. Mặc dù biết rõ sự phản đối của những nhà hoạt động môi trường và các nhóm nông dân trong các tỉnh vùng đông bắc, các viên chức Thái cũng được vận động hành lang bởi Công ty Thái phụ trách dự án Xayaburi và khách hàng tương lai, Công ty điện lực quốc gia Thái. Các viên chức Lào lắng nghe, phản đối và cuối cùng tuyên bố rằng, hủy bỏ nghĩa vụ của Lào đối với tiến trình tham vấn trước của MRC, họ bật đèn xanh cho dự án.

Như thế Lào đã chứng tỏ mình không bị tác động bởi áp lực của Tây Phương, từ chánh quyền cho đến ngân hàng đa phương hay truyền thông quốc tế. Đằng sau các đại diện của chế độ Lào, rất dễ để thấy rõ cái bóng to lớn và vụng về của những ông chủ Trung Hoa của họ. Phần còn lại của thế giới đã quay lưng với những dự án đập khổng lồ, nhưng những nhà xây cất đập ở Trung Hoa là một thành phần kinh khủng của tổ hợp kỹ nghệ quốc doanh nhà nước. Việc truy lùng kinh doanh mới của họ ở trung lưu sông Mekong ăn khớp một cách tinh vi với mục tiêu theo đuổi sự thống trị ảnh hưởng ở Đông Nam Á của Chánh phủ. Lãnh đạo Lào bị quyến rũ bởi ý tưởng rằng quốc gia nghèo và không có bờ biển có thể trở thành “bình điện của Đông Nam Á”, và sử dụng lợi tức từ việc bán điện để phát triển kinh tế. Những nỗ lực vận động hành lang không ngại tốn kém của các công ty Trung Hoa khiến cho các viên chức Lào không nhìn thấy những ảnh hưởng tiêu cực đối với cộng đồng nông thôn và môi trường, ngay cả ở Lào.

Trang bìa cùa tờ National Geographic số tháng 5/2015. Ảnh: ManhHai/Flickr.

Một trang của National Geographic cho thấy đập Miaowei (Miêu Vĩ 苗 尾) đang được xây cất ở Trung Hoa năm 2012. Ảnh: ManhHai/Flickr.

Độc giả Tây Phương theo dõi vấn đề đập trên sông Mekong chỉ hiểu rằng đó là chuyện bảo tồn nền ngư nghiệp nước ngọt phong phú nhất thế giới. Điều đó không ngạc nhiên; truyền thông Tây Phương dựa vào tin tức của các tổ chức phi chánh phủ (NGOs) Tây Phương, chú trọng về cá, đặt trụ sở ở Cambodia. Thật vậy, ảnh hưởng của việc xây cất đập đối với di ngư là mối quan tâm lớn. Người dân Cambodia dùng số cá thu hoạch hàng năm cho 80% nhu cầu chất đạm của họ. Các nhà nghiên cứu đồng ý rằng có ít nhất ½ số thu hoạch đó đang gặp nguy cơ. Trong khi đó, liên can của đập Xayaburi với nông nghiệp của ĐBSCL ít được chú ý ở bên ngoài và quá trễ ở bên trong Việt Nam. Hà Nội đã quá tin tưởng vào cơ chế tham vấn của MRC và sự cam kết nhân từ của các chánh phủ Tây Phương. Phản ánh không khí về phiên họp MRC, một phóng viên Việt Nam viết trong năm 2012 rằng “vấn đề Xayaburi đã đến đường cùng… Nay Việt Nam cần gấp một kế hoạch hành động để đối phó với tình huống xấu nhất có thể xảy ra”.

Tiến thoái lưỡng nan của Bắc Kinh

Hiện nay, không có một tiến trình chính trị nào cho thấy hy vọng, nhưng kinh tế có thể ngăn chặn trường hợp xấu nhất cho các quốc gia hạ lưu. Đặc biệt, chuỗi đập ở trung lưu Mekong nay dường như khó được tài trợ hơn lúc trước. Viện dẫn chi phí xã hội và môi trường, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Á Châu quyết định trong năm 2014 rằng họ sẽ không tài trợ lâu dài những đập lớn trên sông Mekong và các nơi khác. Mới đây, các ngân hàng thương mại trong vùng, cân nhắc nhu cầu bấp bênh của điện cơ bản trong nhiều năm tới và các vấn đề chánh trị liên quan đến việc xây cất các đập khổng lồ, cũng cho thấy sự lưỡng lự trong việc tài trợ.

Đập Nuozhadu (Noa Trát Độ 糯扎渡) to tướng trong tỉnh Vân Nam, Trung Hoa. Đập được Nhóm China Huaneng, một công ty quốc doanh, xây cất. Ảnh: International Rivers/Flickr.

Các phân tích chính trị công cộng ở Trung tâm Stimson, một tổ chức quân sư đặt trụ sở ở Washington, kết luận sau khi nói chuyện với các ngân hàng và công ty xât cất Trung Hoa vào giữa năm 2015 rằng họ cũng càng ngày càng xem chừng những nguy cơ, và nghiêng về phía chống lại áp lực của Chánh phủ Trung Hoa trong việc tài trợ xây cất đập trên sông Mekong. Cuối cùng, Chánh phủ Lào không thể bảo đảm đầu tư mà họ kỳ vọng biến nước Lào thành “bình điện của Đông Nam Á”.

Sẽ có nhiều đập được xây hay không tùy thuộc vào việc Bắc Kinh có sẵn sàng hay không, trực tiếp hoặc gián tiếp qua Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Á Châu (Asian Infrastructure Investment Bank (AIIB)) vừa mới thành lập, để tránh lỗ lã cho các công ty quốc doanh. Không có bằng chứng nào cho thấy Trung Hoa sẵn sàng bỏ cuộc. Họ có khả năng đáng kể trong việc xây đập và có thể tạo thế áp đảo ở Lào để để bóp chẹt Việt Nam trong khi lôi kéo các quốc gia Đông Nam Á khác vào trong quỹ đạo kinh tế và chánh trị của một siêu cường đang lên.

Các dự án chuyển nước

Trong khi đó, như một đám mây ở chân trời, là siêu dự án Kong-Loei-Chi-Mun, một đề nghị của Nha Thủy nông Hoàng gia Thái (Thai Royal Irrigation Department (RID)) để chuyển một phần lưu lượng sông Mekong. Nước sẽ được bơm từ hợp lưu với sông Loei, một phụ lưu nhỏ trên đất Thái khoảng 125 km về phía thượng lưu thủ đô Vientiane của Lào. Số nước được chuyển sẽ vượt qua một rặng núi nhỏ để vào thượng nguồn của hệ thống sông Chi-Mun của Thái Lan. Báo chí loan tin là dự án có thể tốn $75 tỉ, và mất khoảng 16 năm để hoàn tất, và dẫn tưới 5 triệu ha. Nó trùng hợp với một diện tích rộng bằng vùng hạ châu thổ, bao gồm một phần Cambodia, và do đó có lẽ đáng chi phí xây cất.

Kế hoạch chuyển nước của RID xuất hiện cách đây vài năm và rồi được thu hồi, không biết để sửa đổi thêm hay vì Bangkok bị các phản ứng tiêu cực của các quốc gia láng giềng đe dọa. Tuy nhiên, nó không biến mất. Mùa xuân năm nay, hạn hán nghiêm trọng xảy ra ở đông bắc Thái cũng như ở hạ lưu Mekong. Khi mọi việc trở nên tồi tệ trong tháng 3, các hãng thông tấn ấp úng với các bản tin rằng Chánh phù Thái đã cho phép chuyển 47 triệu m3 nước từ sông Mekong. Đó chỉ là một giọt trong chậu nước, hay nói khác hơn, tương đương với 18.000 hồ bơi Thế vận, vừa đủ để thử nghiệm cái khái niệm bơm nước qua núi và cơ hội của Bangkok trong việc đối phó với Hà Nội, Nam Vang và có thể cả Lào.

Một viên chức của RID xoa dịu vấn đề, nói rằng việc chuyển nước sẽ “không có ảnh hưởng đáng kể” ở hạ lưu và, “dù sao đi nữa, việc chuyển nước quy mô lớn ít nhất cũng mất 2 năm nữa”. Nếu được thực hiện trọn vẹn, siêu dự án sẽ chuyển hàng năm 4 tỉ m3 nước vào các tỉnh khô cằn ở đông bắc Thái Lan. Bốn tỉ m3là 4 km3, 1% lưu lượng trung bình của sông Mekong chảy vào châu thổ.

Thái cam kết sẽ tham vấn. Họ hoàn toàn sai nếu nghĩ rằng Việt Nam sẽ không làm ồn ào.

Tiếp theo sau trận hạn hán không tiền khoáng hậu đã tàn phá vụ mùa đông xuân, nông dân ĐBSCL có khuynh hướng đổ trách nhiệm cho việc chuyển nước và các đập ở thượng nguồn, thay vì thay đổi khí hậu, trong việc vật lộn với sự xâm nhập của nước mặn chưa từng thấy trong lịch sử. Họ biết rất rõ rằng nhịp điệu thông thường đã bị xáo trộn. Đây là thời điểm căng thẳng ở ĐBSCL.

3. Thiên nhiên và thủy điện không chỉ là vấn đề của Đồng bằng sông Cửu Long
(Mother nature and a hydropower onslaught aren’t the Mekong Delta only problems)

[Hinh 31]

Vài nét chấm phá

Thay đổi khí hậu và đập trên thượng nguồn đang đe dọa sự thành công của vùng trọng điểm. Phải chăng những vấn đề lớn nhất của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) do chính Việt Nam gây ra?

ĐBSCL, nơi cư trú của gần 20 triệu người, là một trong những môi trường nông nghiệp trù phú nhất trên thế giới, một phần nhờ vào hệ thống kênh dẫn nước, đê, cống và kênh thoát nước phức tạp.
Dựa vào sức mạnh nông nghiệp của ĐBSCL, Việt Nam đi từ một quốc gia nhập cảng gạo triền miên thành một quốc gia xuất khẩu quan trọng.

Nhưng nông dân trong vùng chỉ trích chánh sách an toàn lương thực của chính phủ, dành hầu hết đất đai của ĐBSCL cho việc sản xuất lúa. Và nhiều người đã có biện pháp để làm hỏng những luật lệ đó, bằng cách không thân thiện với môi trường.

Đó là một thí dụ cho thấy chánh sách thủy lợi và sử dụng đất ở ĐBSCL đang làm xói mòn những nỗ lực bảo vệ vùng đất dễ bị tổn thương đối với thay đổi khí hậu và việc phát triển ở thượng nguồn.

Hồi đầu năm, nhiều nông dân ở ĐBSCL đã thất bại trong việc đối phó với trận hạn hán không tiền khoáng hậu tồi tệ nhất từ năm 1926. Có phải trận hạn hán là dấu hiệu của thay đổi khí hậu? Có thể, nhưng chắc chắn đó là chỉ dấu của El Niño. Một hiện tượng làm ấm đại dương sau cùng đã mang mưa từ Phi Châu, Ấn Độ và Đông Nam Á đến nhà tôi ở California.

Những trận mưa mùa nhẹ trong năm 2015, và giảm sớm. Mặc dù thế, khi họ thu hoạch vụ mùa thu, nông dân ĐBSCL vội vàng gieo giống cho vụ đông-xuân. Họ không nghĩ đến đợt xâm nhập chưa từng thấy của nước mặn vào 9 cửa sông Mekong. Thông thường, nước mặn chỉ xâm nhập vào đất liền khoảng 40 đến 60 km. Năm nay, nó chỉ gặp sự chống đối yếu ớt của dòng sông. Ở một nồng độ chết người, 4 gram muối trong 1 lít nước hay nhiều hơn, nước lợ xâm nhập vào đất liền xa hơn bình thường 50%, làm cháy rụi đồng lúa ở Sóc Trăng và Bạc Liêu và giết chết cây ăn trái ở Kiến Hòa và Gò Công.

Phóng viên Đinh Tuyên, người phụ trách mục nông nghiệp cho một nhật báo hàng đầu ở Việt Nam nói: “Hạn hán và xâm nhập của nước mặn là một đột biến cần thiết. Nó cho thấy chúng ta phải cảnh giác với thay đổi khí hậu và tìm cách để thích ứng với nó.”

Anh nói tiếp “Năm 2010 cũng có hạn hán, El Niño trước, nhưng không tệ như thế này.”

Lúa đông-xuân bị nước mặn tàn phá. Ảnh: Dinh Tuyen, Thanh Nien Daily News

Lãnh vực kiến tạo cao

Khi sông Mekong chảy đến biên giới Việt Nam, cách thủ đô Phnom Penh của Campuchia 115 km về phía hạ lưu, nó chia làm hai nhánh, chảy thêm 200 km về phía Đông Nam rồi thoát ra Biển Đông qua 9 cửa. Trong các trận lụt hàng năm, phần lớn nước sông Mekong tràn qua những vùng đất ngập nước để chảy vào Vịnh Thái Lan, khoảng 60 km về phía Tây Nam.

Ở biên giới Việt Nam - Campuchia, sông cao hơn mực nước biển 3,5 m. Ngoại trừ một vài ngọn đồi đá, đất đai tương đối bằng phẳng, một cánh đồng sũng nước bao la màu mỡ.

Châu Đốc, thị trấn của Việt Nam gần biên giới Cambodia. Ảnh: Vyacheslav Argenberg/Flickr.

Nhìn từ một ngôi chùa trên đỉnh của một ngọn đồi - Núi Sam, cao 284 m – biên giới thật rõ rệt. Đất đai về phía Việt Nam được canh tác rậm rạp, được bao bọc bởi một hệ thống kênh dẫn nước, đê, cống và kênh tháo nước phức tạp. Về phía Tây, bên đất Campuchia, cơ sở hạ tầng thủy lợi thì khiêm tốn. Có thể tưởng tượng ĐBSCL như thế nào khoảng 30 hay 50 năm trước: một quang cảnh được lũ lụt hàng năm làm phong phú, thích hợp để trồng các loại “lúa nổi” có thể mọc đủ nhanh để lá và hạt cao hơn mực nước lụt.

Lúa nổi là loại lúa chính của vùng châu thổ cho đến khi những nhà nghiên cứu Philippines phát triển các giống lúa oryza lùn và chắc cho nhiều hạt nếu nước được kiểm soát chặt chẽ. Cái gọi là “lúa thần nông” được chính phủ Sài Gòn du nhập vào nhiều vùng ở ĐBSCL vào cuối thập niên 1960s. Cộng với phân bón và thuốc trừ sâu, nông dân có thể thu hoạch gấp nhiều lần hơn lúa nổi.

Sau khi Sài Gòn thất thủ vào năm 1975, chuyên viên từ miền Bắc thay thế các cố vấn nông nghiệp Hoa Kỳ. Dưới sự chỉ đạo cấp thiết để gia tăng sản xuất lương thực, những cán bộ này đã huy động nông dân ĐBSCL xây đê dọc theo sông ở khắp nơi. Bằng cách uốn nắn lũ lụt hàng năm, hệ thống đê có thể giúp thu hoạch hai hay ba vụ một năm trong những vùng đất ngập nước trước đây, vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên. Và, khi kinh tế thị trường và ruộng cá nhân được tái tục vào năm 1986, đó chính là cái mà nông dân ĐBSCL đã thực hiện. Những đổi mới châm ngòi cho Việt Nam tiến hóa từ một quốc gia nhập cảng gạo triền miên trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới. Từ 4,5 triệu tấn năm 1976, sản lượng gạo của ĐBSCL đạt gần 25 triệu tấn trong năm 2013.

Hình trái: Sông Mekong và lưu vực. Sông bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng ở Trung Hoa, có tên là Lan Thương (Lancang); nó chảy qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Hình phải: Hạ lưu vực sông Mekong. Ảnh: Wikipedia and Penprapa Wut/Wikimedia Commons.

Ám ảnh “an toàn lương thực” của Hà Nội

Ngay cả khi những cải cách thị trường cho phép nông dân sản xuất một số lúa gạo thặng dư to lớn, “an toàn lương thực” vẫn là ưu tiên hàng đầu của chế độ cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, khi lợi tức của người dân tăng trong thập niên 1990, mức tiêu thụ lúa gạo cho mỗi đầu người giảm. Năm 1997, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới. Năm 2012 – một năm trước khi Việt Nam tạm thời vượt qua Thái Lan để đứng hạng 1 – Hà Nội quyết định giữ đủ đất để trồng lúa trong tương lai, khoảng 3,8 triệu ha, 58% diện tích đất có thể canh tác của quốc gia. Trong số đó, 3,2 triệu ha dự trù cho hai vụ mùa.

Điều đó có nghĩa là khoảng ½ nông dân ĐBSCL bị khóa chặt vào việc canh tác lúa, mặc dù lợi nhuận có thể kiếm được từ việc trồng rau, trái cây, hay nuôi tôm cá có thể cao hơn rất nhiều. Trên nguyên tắc, họ được bảo đảm một lợi nhuận vừa phải cho mỗi kg lúa, nhưng Công ty Lương thực miền Nam làm đủ mọi cách để cho giá lúa không tăng trên mức có thể gây khó khăn cho việc xuất khẩu.

Liên hiệp Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (International Union for the Conservation of Nature (IUCN)) hoài nghi về ám ảnh an toàn lương thực triền miên của chính phủ. Jake Brunner là phối trí viên các dự án Mekong của tổ chức. Ông giải thích, những con đê cao có thể giúp làm ba vụ mùa nhưng ngăn chận nước lũ bồi đắp phù sa vào ruộng lúa; do đó, nông dân phải sử dụng phân bón nhiều hơn. Việc sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu và diệt cỏ cũng cần thiết để tối đa năng suất của các giống lúa ngắn ngày mới. Khi các chi phí kiến tạo và môi trường của việc thâm canh lúa ở ĐBSCL được cộng vào, IUCN ước tính, chỉ có các công ty xây cất và bảo trì cơ sở hạ tầng và các công ty quốc doanh xuất khẩu số lượng lớn gạo là có lợi nhuận hấp dẫn. Nông dân trong vùng chỉ sống chật vật.

Quảng cáo thuốc trừ sâu trên cánh đồng kiểu mẫu ở ĐBSCL. Ảnh: David Brown.

Võ Tòng Xuân đồng ý. Nguyên Hiệu trưởng Đại học An Giang được biết như là “Tiến sĩ Lúa” của Việt Nam. Ông Xuân nói: “Mức xuất khẩu gạo của chúng ta gia tăng nhưng không cải thiện được cuộc sống của người dân. Mỗi năm, chính phủ chi tiêu hàng tỉ để xây cất và nạo vét, nhưng các chi phí này không được tính vào chi phí sản xuất gạo.”

Tuy nhiên, nhiều nông dân ĐBSCL ưa thích tính dễ đoán trước của việc trồng lúa. Giáo sư Nguyễn Ngọc Đệ, Phó Trưởng Khoa Phát triển Nông thôn của Đại học Cần Thơ giải thích: “Điều đó dễ hiểu. Trồng lúa thì ít nguy hiểm hơn là trồng, thí dụ, dưa hấu và rồi thất bại vì thiếu kiến thức và kinh nghiệm, hay rớt giá vì số cung quá nhiều.”

Những nông dân khác chỉ trích đòi hỏi của viên chức địa phương về số lượng thay vì phẩm chất. Trần Minh Hải của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn giới thiệu tôi với một nông dân trong vùng trồng lúa ba mùa. Ông nói ông và láng giềng muốn trồng rau trong mùa khô. “Nó làm cho đất tốt hơn và có tiền nhiều hơn, nhưng chính phủ kiểm soát nguồn nước và đất không bao giờ khô.”

Người nông dân cho biết ông là người sớm thích ứng và muốn biết kiến thức mới. “Tôi phát triển một loại nếp mới rất thích hợp ở đây. Tôi đang cố tìm cách để làng này có thể bán ra thị trường như một đặc sản. Tôi có cảm tưởng đụng phải chân tường: Tôi không thể bán ra thị trường nếu không được kiểm chứng và chi phí cho việc đó không cho phép.”

Ở một vùng khác mà tôi thăm viếng với Hải, một vài nông dân đào rãnh và đấp bờ trong ruộng lúa. Những rãnh đầy nước sống động với cá; trên bờ, bắp cao ngang thắt lưng. Hải giải thích: “Họ kiểm soát nguồn nước của họ. Cái những nông dân này đang làm thì không hợp pháp về mặt kỹ thuật, nhưng có lẽ vài viên chức địa phương nháy mắt ra hiệu khi nói chuyện với họ.”

GS Đệ nói: “Thật là ngớ ngẩn để duy trì mục tiêu sản xuất gạo của ĐBSCL ở mức 25 triệu tấn mỗi năm. Thị trường “gạo thơm” của Thái Lan và thị trường “gạo bastami” của Pakistan, họ bán với giá gấp đôi gạo thông thường của Việt Nam. Chúng ta có thể “thương hiệu hóa” gạo của chúng ta để có lợi nhuận cao hơn, nhưng điều đó không dễ dàng.”

Thị trường gạo có phẩm chất cao đã có ở trong nước. Khuynh hướng của giới tiêu thụ ở thành thị đang chộp lấy những bao gạo hữu cơ hiệu Hoa Sữa của công ty Viễn Phú. Một nhân viên của công ty giải thích: “Vấn đề của chúng tôi là không hội đủ điều kiện để có giấy phép xuất khẩu, thứ giấy phép thiên vị các công ty thương mại nhằm buôn bán với số lượng lớn nhưng không cần phẩm chất.”

Lợi tức nuôi cá giảm vì giá thức ăn tăng

Châu Thi Đa là trưởng Khoa Thủy sản ở Đại học An Giang. Ông nói với tôi rằng dự trữ cá thiên nhiên tan vỡ năm 1995, khi nông dân bắt đầu nuôi cá tra để xuất khẩu. Lúc ban đầu, các loại cá sông khác được thu hoạch để nuôi cá tra, nhưng trong vài năm, chúng trở nên khan hiếm. Nhưng kinh doanh vẫn còn tốt. Xuất khẩu cá sông từ ĐBSCL nay thu cho Việt Nam $2 tỉ mỗi năm. Nông dân nuôi cá phải dùng cá biển và thử dùng hột đậu nành của Hoa Kỳ.

Vì thế, ông Đa nói, ngay cả trước khi việc xây cất đập khởi sự ở Lào trên thượng nguồn, dự trữ “cá trắng (whitefish)” của nhiều vùng ở hạ lưu Mekong đã bị quét sạch. Không biết chúng có phục hồi được không, ông giải thích. Việc xây cất đập Xayaburi ở Lào sẽ ngăn chận 64 trong số 100 loại di ngư của sông Mekong đi về nơi sinh đẻ của chúng. Nền công nghiệp nuôi cá tra ở ĐBSCL hiện nay tùy thuộc vào thức ăn nhân tạo.

Nhà sàn trên đồng lúa ngập nước ở ĐBSCL. Ảnh: Daniel Hoherd/Flickr.

Gần bờ biển, thừa muối

Ở Hệ thống Quan sát Toàn cầu và Nghiên cứu Châu thổ (Delta Research and Global Observation Network (DRAGON) của Đại học Cần Thơ, xâm nhập của nước mặn được xem như sự kiện hệ trọng của nền nông nghiệp ĐBSCL.

Mức nước biển dâng 1 m được dự đoán từ nay cho đến 2100 sẽ đặt 38% ĐBSCL ngang hoặc dưới mực nước biển, giám đốc DRAGON Lê Công Trí nói. Mặc dù Bộ Nông nghiệp Việt Nam đã đề nghị nới rộng và tăng cường hệ thống đê biển, hầu hết các nhà phân tích tin rằng nước biển dâng cuối cùng sẽ buộc phải tháo lui đến vùng đất cao hơn. Và đó là giả thuyết chính của bản thảo Kế hoạch ĐBSCL (Mekong Delta Plan (MDP)) đang được chính phủ Việt Nam nghiên cứu.

Trong 30 năm qua, mực nước biển trung bình ở duyên hải miền Nam tăng khoảng 6 cm; trong khi đó, lượng phù sa được sông bồi đắp hàng năm giảm rõ rệt, từ 160 triệu tấn trong năm 1992 xuống còn 75 triệu tấn trong năm 2014. Các nhà khoa học ở Đại học Cần Thơ cũng cho biết lượng mưa trên ĐBSCL cũng giảm. Bằng cách ngoại suy khuynh hướng quan sát được trong thập niên 1980, họ dự đoán rằng lượng mưa hàng năm trong thập niên 2030 sẽ giảm khoảng 20%.

Chưa hết. Nơi nào nước mặn xâm nhập nhiều nhất, các giếng sâu được khoan vào các tầng nước ngầm cỗ để lấy nước ngọt. Các con đê cao giúp trồng hai hay ba vụ mùa mỗi năm ngăn chận việc bổ sung nước cho các tầng nước ngầm. Do đó, đặc biệt là ở Cà Mau, tỉnh tận cùng của Việt Nam, mặt đất đang lún dần, khoảng 2 mm mỗi năm. Điều đó giúp cho nước mặn dễ xâm nhập vào các sông, rạch và kênh đào khi thủy triều lên và tràn qua đê và bờ để chảy vào ruộng lúa và vườn tược.

Từ năm 1975, cống ngăn mặn là biện pháp phòng thủ được ưa chuộng để chống lại sự xâm nhập của thủy triều; chúng được đóng trong mùa khô, khi nước sông thấp, và mở khi lũ lụt hàng năm nâng cao mực nước. Giải pháp kiến tạo để chống mặn này gây nhiều tranh cãi. Khi mưa mùa bắt đầu ra trò trong năm nay, tôi lái xe ngang qua một vùng phía Nam Cần Thơ với Hải, giảng dạy ở Đại học Cần Thơ trước khi vào Bộ Nông nghiệp. Anh hoài nghi về giá trị của các rào chận này. Chúng tôi ngừng ở nhiều kênh đào được khóa để chận nước biển. Tất cả đều tù đọng và hôi thối. Lục bình xâm lấn sen, một loại hoa màu có giá trị.

Ở một nơi khác, chúng tôi quan sát những vũng nước đục màu sữa. Hải giải thích: “Đó là phèn.” Đất ở vùng này có độ acid rất cao. Lúc hạn hán, đất khô và nứt nẻ, khiến cho aluminum và sắt bị oxy hóa. Nay, bắt đầu mùa mưa, kim loại bị chắt ra khỏi đất. “Anh nói: “Đất này khó để trồng lúa. Cho đến khi nào muối acid được nước lụt rửa sạch, nó không thể trồng trọt được.”

Ở tỉnh Bến Tre, Tiến sĩ Hải nói với tôi, cống ngăn mặn khổng lồ Ba Lai chận một trong những cửa nhỏ của sông Mekong. Nó được đưa vào hoạt động trong năm 2004 để “ngọt hóa” sông ở thượng lưu. Cống ngăn mặn này không được xem như một đầu tư tốt vì nó không thể tống ô nhiễm trong năm. Vào mùa khô, nước sông Ba Lai ở phía trên cống rất mặn nên không thể dùng tưới rau hay cây ăn trái. Tuy nhiên, Cục Đê điều của Bộ Nông nghiệp có giải pháp: xây nhiều cống ngăn mặn hơn. Họ lập luận rằng, vấn đề của Ba Lai là ở thượng nguồn của cống: nước mặn xâm nhập từ các nhánh sông Mekong chưa có cống.

Hướng về tôm

Tôm của vùng ĐBSCL. Ảnh: Lam Thuy Vo.

Gần duyên hải Biển Đông về phía Đông và Vịnh Thái Lan về phía Tây, nước ngầm ở nhiều làng là nước lợ tự nhiên. Ở đó – như ở Ba Lai – hàng chục ngàn nông dân kết luận rằng việc trồng lúa không còn cho một cuộc sống có thể sống được bằng việc nuôi tôm. Tuy nhiên, họ bị trói buộc nếu đất do chính phủ cấp cho họ là đất trồng lúa, và họ bị cấm trồng các loại hoa màu khác. Dĩ nhiên, ngoại trừ các viên chức địa phương sẵn sàng ngó lơ để nông dân mở cống, việc thay đổi chánh sách chắc còn rất lâu.

Nuôi tôm trở nên ngành kinh doanh lớn trong nhiều năm ở nhiều vùng của Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang và một số tỉnh duyên hải khác. Trong năm 2013-15, Việt Nam xuất khẩu hàng năm $2,7 tỉ đô la tôm sú (Penaeus monodon) và tôm trắng Thái Bình Dương (Litopenaeus vanamei). Khoảng 580.000 ha đất duyên hải được đào ao nuôi tôm. Ở những nơi mưa nhiều đẩy lùi nước mặn, tôm là vụ mùa khô, và lúa trồng trong những tháng mưa.

Hơn hẳn việc trồng lúa, nuôi tôm nước lợ là một kinh doanh rắc rối; nó đòi hỏi một sự quản lý kỹ lưỡng phẩm chất nước, độ mặn, hóa chất của đất và các yếu tố khác. Và, trong lúc nhà nước bảo đảm cho nông dân một lợi nhuận tuy nhỏ nhưng đáng tin cậy, nông dân nuôi tôm nhờ ơn huệ của tình hình thị trường.

IUCN: Những vấn đề ở ĐBSCL hầu hết “chế tạo tại Việt Nam”

Khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, những nhà hoạch định trung ương của chế độ chiến thắng Hà Nội dành ưu tiên cao trong việc đẩy mạnh sản xuất lương thực ở ĐBSCL. Sau những thụt lùi ban đầu, họ thành công đáng kể. Sự gia tăng nhanh chóng của sản lượng cá, tôm, trái cây và đặc biệt lúa gạo châm ngòi cho một sự bùng nổ xuất khẩu, báo trước và hỗ trợ cho việc phát triển rộng rãi hơn của nền kinh tế quốc gia.

Nhưng những thành công này không phải không tốn kém. Ngày nay nó không chỉ là những ảnh hưởng của chuỗi đập khổng lồ và tiềm năng chuyển nước ở thượng nguồn, của mực nước biển dâng và của sự thay đổi lượng mưa mà những nhà hoạch định phải liệu trước. Jake Brunner của IUCN nói: “Đại đa số những vấn đề ở ĐBSCL được ‘chế tạo tại Việt Nam.’ Chúng có thể đổ lỗi cho các chánh sách thủy lợi và sử dụng đất ở ĐBSCL.”

Cố gắng của Việt Nam để ĐBSCL sản xuất nhiều hơn đã đụng chân tường. Những chánh sách áp dụng trong 40 năm qua làm giảm màu mỡ của đất và làm tổn thương nghiêm trọng hệ sinh thái của ĐBSCL. Mực nước biển dâng, sự thay đổi lượng mưa và can thiệp của con người ở thượng nguồn đang giáng thêm áp lực đối với nền kinh tế nông thôn.

Đầu năm nay, ở Hà Nội xa xôi, chế độ tái xác định trên nguyên tắc chánh sách an toàn lương thực xưa cũ của Việt Nam (3,76 triệu ha sẽ được tiếp tục dành cho việc “trồng lúa”) nhưng trên thực tế thì thụt lùi (trong số này, khoảng 400.000 ha ruộng có thể bị nước mặn xâm nhập có thể dùng cho các loại hoa màu khác miễn là “điều kiện để trồng lúa được bảo tồn.”). Nói trắng ra, chính phủ cho phép nông dân trồng các loại hoa màu có nhiều lợi hơn trên đất khó trồng lúa.

Đối với những người nói chuyện với tôi ở ĐBSCL trong tháng 6, hầu hết là giới khoa bảng và một vài “nông dân điển hình,” quyết định của Hà Nội thật đáng hoan nghênh. Nó báo hiệu rằng lãnh đạo Việt Nam am hiểu là thích ứng với những tình huống luôn thay đổi đã trở nên cấp thiết. Nhưng, khi có quá nhiều người vẫn còn quyến luyến với hiện trạng, liệu hành động táo bạo có thể xảy ra hay không?

4. Kế hoạch cứu vãn Đồng bằng sông Cửu Long
(A plan to save the Mekong Delta)


Vài nét chấm phá

Nước biển dâng và đập thượng nguồn đang quấy nhiễu vùng đất màu mỡ. Việt Nam có hành động kịp thời để ngăn chặn thảm họa hay không?

Kế hoạch Đồng bằng sông Mekong – Mekong Delta Plan (MDP) – là một thành quả nhiều năm làm việc của nhiều viên chức Việt Nam và Hà Lan, được hỗ trợ bởi một đội chuyên viên của hai quốc gia.
Nó là sơ đồ không chỉ để đối phó với ảnh hưởng của thay đổi khí hậu và các đập thượng nguồn mà còn với một số hành động thiển cận của chính người Việt Nam.
Nông dân trong vùng cũng như các ngành liên hệ của Chánh phủ phải được thuyết phục tham gia vào kế hoạch.

Đây là bài cuối trong một loạt 4 bài phân tích chi tiết nhằm tìm hiểu những mối đe dọa đối với Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và làm thế nào để đối phó.

Đinh Tuyên, người bạn phóng viên của tôi ở Cần Thơ, thủ phủ rộn ràng của ĐBSCL, nói: “Tôi nghĩ rằng năm nay Việt Nam nếm một tình trạng bình thường mới. Nước ngọt từ mưa và thượng nguồn ít hơn, và nước mặn nhiều hơn vì nước biển dâng”.

Chúng tôi đang nói về một bài báo của Tuyên trong tháng 5 trên tờ Thanh niên, một nhật báo hàng đầu của Việt Nam. Nó cho thấy nước sông màu xanh, và kêu gọi sự chú ý về một hiện tượng đặc biệt: nhánh nam của sông Mekong không đục với phù sa như bình thường.

Tuyên trích dẫn Nguyễn Hữu Thiện của IUCN: “ĐBSCL được bồi đắp do phù sa lắng đọng trong 6.000 năm. Mỗi đập được xây ở thượng nguồn trên dòng chánh hay phụ lưu sẽ làm giảm lượng phù sa của sông. Khi phù sa không còn được đẩy ra biển, tiến trình bồi đắp sẽ đảo ngược… và nó sẽ được tính trong vài thế kỷ”.

Tôi hỏi Tuyên rằng người dân mà anh gặp khi đi qua vùng này có biết gì về sự tàn phá mà thay đổi khí hậu đang dành cho ĐBSCL.

Anh nói: “Từng chút, nó đang thấm vào. Họ để ý rằng khi mưa đến muộn, và họ phải khoan sâu hơn để có nước ngọt. Khi họ thấy một câu chuyện tương tự như chúng ta vừa nói, họ bảo ‘À, đúng rồi – điều đó có lý’. Và rồi, ở duyên hải năm nay, gần như mọi nông dân đều bị thiệt hại do nước mặn xâm nhập”.

Tôi hỏi: “Như vậy họ sẵn sàng để thích ứng với tình trạng bình thường mới?”

Tuyên nói: “Tôi nghĩ như vậy. Họ hy vọng Chánh phủ sẽ có một kế hoạch có hiệu quả”.

Mực nước thấp ở một cửa sông của ĐBSCL. Đầu năm 2016, ĐBSCL trải qua một trận hạn hán tồi tệ nhất trong 90 năm. Ảnh: Cong Han/Thanh nien Daily News.

Các chuyên viên đứng đằng sau chiến lược “không hối tiếc”

Đã có một kế hoạch. Nó được đệ trình lên Thủ tướng trong tháng 12/2013 và có thể khả thi về mặt chánh trị.

MDP là một công trình làm việc nhiều năm của nhiều viên chức Hà Lan và Việt Nam, hỗ trợ bởi một đội chuyên viên từ hai quốc gia. Phía Việt Nam phần lớn từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, chịu trách nhiệm về các chánh sách thích ứng và giảm thiểu thiệt hại về thay đổi khí hậu và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, người thừa kế hai ngàn năm kinh nghiệm quản trị thủy lợi [?]. Hai bộ của Việt Nam ít khi đồng ý với nhau. Tuy nhiên, người Hà Lan thường đóng tốt vai trò hòa giải. Hà Lan có nhiều kinh nghiệm trong việc ngăn chặn biển, và người Hà Lan đã có một chương trình viện trợ hữu hiệu ở Việt Nam trong ba thập niên.

Đặc biệt, hai bộ của Việt Nam và đối tác Hà Lan của họ đã đồng ý một đường hướng tương đối chặt chẽ cho ĐBSCL trong 100 năm tới. Tôi đã đọc tất cả 126 trang, với một chút chật vật mặc dù tôi có 30 năm kinh nghiệm làm việc cho Chánh phủ. Tài liệu dường như được soạn bằng tiếng Hà Lan, dịch sang tiếng Việt, và sau cùng chuyển sang tiếng Anh cho Ngân hàng Thế giới và các nhà tài trợ tương lai khác.

Đây là bốn đoạn tóm tắt của tôi.
Mực nước biển dâng, các đập ở thượng nguồn và những thay đổi trong nhịp điệu hàng năm của mùa nắng và mưa sẽ quấy nhiễu vùng ĐBSCL màu mỡ. Những nỗ lực hiện nay để sản xuất càng ngày càng nhiều lúa gạo và các hoa màu có thể xuất cảng khác thì không chắc và bền (unsustainable).
Thảo một kế hoạch rút lui chiến lược và trật tự; không nên bảo vệ từng cm cuối cùng của bờ biển. Tái cứu xét trồng lúa ba mùa trong vùng thượng nguồn của ĐBSCL. Xây đê chung quanh trung tâm của ĐBSCL, tất cả (khoảng chừng) 1,5 m trên mặt nước biển. Đào một kinh dẫn nước lớn để đưa nước về phía nam và tây của sông Tiền. Bảo tồn nước ngọt bằng cách phục hồi các tầng nước ngầm và xây hồ chứa nước, bao gồm việc trữ nước theo mùa ở phía sau đê biển dọc duyên hải.
Thừa nhận rằng giải pháp tốt nhất cho 1/3 diện tích hiện nay của ĐBSCL là một nền kinh tế nước lợ. Hãy bỏ lúa ở đó. Phục hồi rừng sác và tái cấu trúc phương pháp nuôi tôm cá hiện nay.
Đặt kinh tế của ĐBSCL vào việc kinh doanh nông nghiệp. Tái chú trọng vào việc tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn từ nhiều loại thu hoạch nhỏ và đa dạng hơn. Sản xuất nguyên vật liệu tại chỗ. Bảo đảm nông dân có thể vay vốn để nâng cao năng lực. Giành giá trị cao hơn bằng cách thương hiệu hóa sản phẩm tốt và tiêu thụ qua các hợp tác xã.

Hà Nội lên xe?

Điểm mạnh nhất của MDP có lẽ là đặc tính “không hối tiếc” của nó – cái mà trong một phạm vi chánh sách khác Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama gọi là “không làm chuyện ngu”. Nó là một kế hoạch chặt chẽ vẽ đường cho một tình huống thực tế của thay đổi khí hậu, với sự uyển chuyển để điều chỉnh nếu các tiên đoán sai, lên hay xuống. Trong hơn hai năm, MDP lọt khỏi tầm mắt của người dân trong khi các viên chức của bộ và những người đối tác của họ trong Đảng Cộng sản tranh luận về những thành phần và tầm quan trọng. Trong buổi thăm viếng vào tháng 6/2014, tháp tùng bởi đại diện của các ngân hàng phát triển quốc tế và cổ võ của doanh nhân Hà Lan, Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte đã làm hết sức mình để thúc đẩy MDP đi tới. Nhưng 2015 không phải là năm của những sáng kiến quan trọng; giới tinh hoa của Việt Nam đang bận tâm trong việc giành quyền kiểm soát đảng cho đến tháng 1/2016.

Một “Diễn đàn ĐBSCL” ở Cần Thơ vào cuối tháng 6 báo hiệu mọi việc đang tiến triển. Thủ tướng mới của Việt Nam, Nguyễn Xuân Phúc, xem xét chấp thuận MDP. Sau đó các Bộ Đầu tư và Môi trường nói nhiều về kế hoạch dài hạn, các mục tiêu thiết thực và trên hết, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ và tỉnh, để có thể duy trì và ngay cả gia tăng sự thịnh vượng của ĐBSCL.

Mặc dù có mặt, Bộ trưởng Nông nghiệp đã không hưởng ứng. Đây là lý do để lo ngại một ít. Ngoại trừ có một chánh sách mạnh chú trọng đến một chiến lược “mềm”, có thể đoán được rằng Bộ Nông nghiệp sẽ tiếp tục làm công việc nó làm tốt nhất – đổ bê tông vào trận chiến vô ích để ngăn chặn biển và ép nông dân sản xuất càng ngày càng nhiều hơn hàng hóa kém phẩm chất.

Nông dân sẽ tham gia?

Có thể có sáng kiến trong lãnh vực nông nghiệp ở Việt Nam nếu được khích lệ đúng mức. Khoa trưởng Đề của Đại học Cần Thơ cho biết nó xảy ra khi 4 nhóm vào cuộc: các nhà khoa bảng, nông dân, doanh nhân và viên chức Chánh phủ. Điều đó xảy ra một cách ấn tượng trong thập niên 1990 khi thị trường xuất cảng là một sức hút mạnh mẽ. Tình huống nay đã khác. Nông nghiệp của ĐBSCL không còn bị thách thức bởi cơ hội; đúng hơn, là vấn đề cứu vãn một nền kinh tế kỹ nông có thể tồn tại trong thời kỳ khó khăn hơn. Đề nói, thường thường, các viên chức là những người sau cùng nhìn thấy tính ưu việt của sự thay đổi. Nhưng vào lúc này, hầu hết Chánh phủ dường như đang đồng hành với ý kiến chuyên môn về các chiến lược thích ứng. Nếu điều đó đúng, sự tham gia của nông dân là điều cốt yếu. Họ phải được thuyết phục để thay đổi tập quán của họ, không cần thiết để kiếm nhiều tiền hơn, nhưng để hạn chế thiệt hại từ hiện tượng khí hậu và ảnh hưởng ở thượng nguồn đối với lưu lượng của sông Mekong.

Nông dân cấy lúa ở ĐBSCL. Ảnh: Dinh Tuyen/Thanh nien Daily News.

Tôi gặp Hồ Long Phi vào ngày cuối ở Việt Nam, sau 10 ngày thăm viếng ĐBSCL. GS Phi là một Kỹ sư thủy lợi. Được phân vai là một “chuyên viên thủy học xã hội (social hydrologist)”, ông là một chuyên viên thúc đẩy nông dân.

Tôi đánh bạo rằng MDP dường như cái mà người dân có thể đồng ý.

Ông Phi trả lời: “Tôi không đồng ý. Nó có một xác suất rất thấp để được thực hiện, ngay cả với việc hỗ trợ của các ngân hàng phát triển đa phương, vì nó không cứu xét đầy đủ quan điểm của nông dân hay tài nguyên sẵn có”.

Ông Phi nói tiếp, “Dữ kiện khảo sát gần đây do cơ quan của tôi [Trung tâm Quản trị Nước và Thay đổi Khí hậu ở Đại học Quốc gia/Thành phố Hồ Chí Minh] thu thập cho thấy rằng việc vận động nông dân là một yếu tố quyết định trong việc thích ứng trước. Bản năng của nông dân là tối đa hóa lợi nhuận trong ngắn hạn. 80% mang nợ. Ngân hàng không cho họ vay để tối tân hóa sản phẩm của họ. Họ khó tiếp cận với thông tin sốt dẻo và có ích về thị trường. Không ngạc nhiên khi họ thận trọng với rủi ro”.

Sau đó, tôi lướt nhanh qua MDP. Nó là một cái lều lớn. Mọi ý tưởng hay đều hiện ra. Vâng, MDP đề cập đến quan ngại của Phi ở trang 66: “Yếu tố quyết định của biện pháp này là một sự kích thích trực tiếp vào các hiệp hội nông dân; hỗ trợ trực tiếp trong việc nâng cao năng lực; nguồn tín dụng; và chuỗi mục tiêu giá trị”. Nhà sinh thái học bạn của tôi Vũ Ngọc Long nhấn mạnh đến sự phục hồi “tấm thấm tự nhiên (natural sponges)” của rừng tràm và rừng sác ở ĐBSCL mà nay đã bị thu hẹp rất nhiều. Điều này được đề cập ở trang 26.

Kế hoạch của thành công

Có nhiều cái khác hơn dự đoán khi lướt qua báo chí Việt Nam, không chỉ có những dự án xây đập ở thượng nguồn hay Thiên nhiên đang quấy nhiễu nền móng của kinh tế ĐBSCL.

“Cứu vãn kinh tế ĐBSCL” cũng có nghĩa là từ bỏ các hoạt động thiển cận mà Việt Nam có thể kiểm soát, như khai thác cát ở lòng sông, phá rừng sác với quy mô lớn để làm ao nuôi tôm, tháo nước ngầm trong vùng nước lợ – những yếu tố cho đến nay góp phần làm xói mòn nghiêm trọng vùng duyên hải hơn là sự sụt giảm lượng phù sa của sông Mekong do các đập ở thượng nguồn. Điều đó có nghĩa là một đám tang trang trọng cho chánh sách an toàn lương thực cổ kính của Việt Nam, ám ảnh theo đuổi mức thu hoạch lớn lao khiến cho việc hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu của quốc gia bị tụt hậu.

Những người soạn ra MDP đã không ngần ngại nêu bất đồng với sự khôn ngoan bình thường. Thí dụ, họ bác bỏ những tình huống gia tăng dân số làm cơ sở cho các kế hoạch 5 năm của Việt Nam và “những viễn kiến” và ảnh hưởng của việc phân phối ngân sách hỗ trợ. Dân số ĐBSCL sẽ không tăng đến 30 triệu người vào năm 2030 ngoại trừ nền kinh tế bùng nổ ở Thành phố Hồ Chí Minh ngưng thu hút di dân và các gia đình ở ĐBSCL bỏ kế hoạch hóa gia đình. MDP cho rằng dân số sẽ tiếp tục giảm như trong thập niên qua, có lẽ đến mức tốt nhất, ít hơn nhưng vẫn thuận lợi cho ĐBSCL, vào khoảng 15 triệu.

MDP là một hiến chương về chánh sách để phục hồi màu mỡ của đất và hạn chế ô nhiễm, khuyến khích việc đưa lương thực có giá trị cao hơn đến thị trường thế giới và những người tiêu thụ chọn lọc mới của Việt Nam, và điều đó hứa hẹn một sự đền đáp công bằng đối với các gia đình nông dân và ngư dân đã bám vào dây chuyền giá trị. Nó sẽ là một sự kiện quan trọng nếu nó được diễn dịch một cách cấp tiến và thực hiện một cách năng động.

Đó là một chữ “nếu” lớn lao. Quyết định ở Việt Nam từ trên đi xuống, nhưng quyết định thi hành thường không đồng nhất. Các tỉnh thường giả điếc với những sắc lệnh từ bên trên mà họ không thích. Và, khi những quy định của Hà Nội chồng chéo với quyền lợi địa phương, một phong bì đầy tiền thường mua được hòa hợp mà sự chặt chẽ của chánh sách phải trả giá.

Có lẽ biết rõ về sự thật này, MDP đưa ra một viễn kiến về hệ thống bất thường, cái mà Ngân hàng Thế giới ủng hộ với khoản vay $310 triệu để hỗ trợ cho việc thu thập dữ kiện, phân tích và quyết định trên quy mô vùng. Nó cho phép quản trị viên trong vùng, tuy chưa nêu tên, một cơ hội cạnh tranh để khắc phục những va chạm quan liêu và quyền lợi địa phương.

Một ghe chở lúa ở ĐBSCL. Ảnh: Richard Vignola/Flickr.

Các viên chức của nhiều thành phố ở ĐBSCL nói với tôi rằng các cố vấn Hà Lan đặc biệt nhấn mạnh đến việc bắt buộc hợp tác của 13 tỉnh trong vùng, vì ranh giới thủy học không theo biên giới chánh trị. Nếu xảy ra, đó sẽ là điều rất tốt, họ tình nguyện. Những người trò chuyên với tôi rất rõ: Hà Nội phải thúc ép giới chức địa phương cùng làm và làm có kết quả. Tôi nghe nói những chi tiết về tổ chức và những hướng dẫn rất quan trọng cho việc thực hiện sẽ được tiết lộ trong phiên họp mùa thu của Quốc hội Việt Nam. Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ dường như được chọn để biến kế hoạch thành hiện thực. Huệ là một ngôi sao đang lên, một người ngoài miền Bắc, một kinh tế gia liên kết chặt chẽ với bộ máy của đảng.

Ông Huệ – hay nếu không phải ông Huệ, một đồng sự cao cấp khác được giao phó để thực hiện sự thay đổi đường lối hùng tráng này – sẽ chịu thách thức để thi hành các chánh sách nhằm phục hồi màu mỡ của đất và hạn chế ô nhiễm, tích trữ và chia nước ngọt, khuyến khích đưa lương thực có giá trị cao ra thị trường thế giới và những người tiêu thụ chọn lọc mới của Việt Nam, và điều đó hứa hẹn một sự đền đáp công bằng đối với các gia đình nông dân và ngư dân đã bám vào dây chuyền giá trị. Ông sẽ phải tự tin rằng ĐBSCL có thể chế ngự những ảnh hưởng tàn nhẫn của mực nước biển dâng và các trận mưa mùa ngỗ ngược, cũng như những hậu quả của sự can thiệp vào lưu lượng sông ở thượng nguồn.

Đó là một công việc khó khăn, và khi mực nước biển dâng từ năm này qua năm khác, sự thành công chỉ là tương đối.

Sơ lược về tác giả

David Brown là viên chức ngoại giao từng làm việc ở Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn trước năm 1975. Sau đó, ông là nhân viên Bộ Ngoại giao Mỹ ở một loạt nước Đông Nam Á khác. Ông rời nhiệm sở năm 1997 và nay được đánh giá là một chuyên gia về Đông Á cũng như những vấn đề năng lượng quốc tế. David Brown từng trở lại Việt Nam triển khai các dự án giáo dục, bảo tồn môi trường trong nửa cuối của thập niên trước và hiện vẫn đi lại thường xuyên giữa Việt Nam và Mỹ. Ngoài ra, ông còn là tác giả của nhiều bài viết phân tích về tình hình Biển Đông và về vấn đề thời sự ở Việt Nam trên các tờ báo Asia Times, Asia Sentinel, East Asia Forum, China Economic Quarterly,Asianomics, Foreign Affairs và Yale Global.


13 tháng 10 năm 2016
David Brown
Bình Yên Đông lược dịch
Dịch giả gửi BVN
Nguồn: http://boxitvn.blogspot.com/2016/12/nhung-moi-e-doa-cua-ong-bang-song-cuu_78.html

Không có nhận xét nào: