Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2016

3. Ý NGHĨA SIÊU NHIÊN VÀ ĐIỀU THÂN

Ý NGHĨA SIÊU NHIÊN CỦA THIỀN
1. Tính hai mặt của Vũ trụ
Những gì khoa học ngày nay khám phá về chất liệu làm nên Vũ trụ chỉ là một mặt. Đầu tiên, chất liệu làm nên vũ trụ là vật chất gồm các nguyên tố hóa học, với cấu trúc căn bản là nguyên tử. Rồi những dạng tồn tại khác, không thể nhìn thấy được bằng mắt thường, như Trường điện từ, sóng vô tuyến, plasma, laser… tiếp tục được xếp vào chất liệu của thiên nhiên, của vũ trụ. Tất cả những chất liệu đó tạo nên những thiên thể lớn lao trong vũ trụ như các Thiên hà. 
Nhưng một điều làm các nhà khoa học băn khoăn là số liệu tính toán về khối lượng vật chất trong vũ trụ không phù hợp với thực tế chuyển động của các thiên thể. Dường như còn gấp mười lần khối lượng dấu mặt mà khoa học chưa tìm thấy.
Khối lượng chất liệu dấu mặt đó chừng nào sẽ được tìm thấy thì ta chưa biết, nhưng theo lời Phật dạy, chúng ta biết còn rất nhiều cõi giới siêu hình như các cõi trời, ngạ quỷ, địa ngục. Có thể chính sự tồn tại của các cõi trời đã ảnh hưởng đến sự chuyển động của các thiên thể.
Theo Vũ trụ quan của đạo Phật thì còn những cõi giới siêu hình bên cạnh cõi giới vật chất mà chúng ta đang cư trú; bên cạnh những chúng sinh mang thân vật chất, còn có những chúng sinh mang thân siêu nhiên để tồn tại ở cõi siêu hình. Ta có thể tạm gọi chất liệu siêu nhiên đó là tâm linh. Và như vậy, Vũ trụ được tạo thành bởi ít nhất hai chất liệu: vật chất và tâm linh. 
Chất liệu Tâm linh đó là gì thì hiện nay chưa được khoa học nghiên cứu để có thể lập nên một hệ thống lý luận logic. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn hiểu rõ hơn về vũ trụ hoặc nguồn gốc sự sống thì chúng ta phải quan tâm nhiều đến sự hiện diện của chất liệu tâm linh của vũ trụ. 
2. Thiền như là con đường tìm thấy chân lý của Vũ trụ
Trong khi khoa học khởi điểm đi tìm chân lý của Vũ trụ bằng con đường vật chất thì đạo Phật đi tìm chân lý của Vũ trụ bằng con đường Thiền định. Ngoài những ích lợi về giải thoát, đạo đức, an lạc, Thiền còn cho ta sự thấu hiểu về Vũ trụ khi ta tiến dần vào trong sự an định nội tâm. Khi ta tiến dần vào sự an định, tâm ta cũng tiến dần vào thế giới Tâm linh, thoát dần khỏi thế giới vật chất. Lúc đó, cái nhìn của chúng ta về cuộc sống cũng khác đi rất nhiều, bớt chấp vào danh lợi của thế gian. Ta có thể nói rằng mối dây liên hệ giữa hai chất liệu vật chất và tâm linh của vũ trụ chính nằm nơi tâm của chúng sinh. Chúng ta không thể đi tìm cõi giới huyền linh bằng một phương tiện kỹ thuật, dù kỹ thuật đó cao siêu đến đâu. Chúng ta chỉ có thể tìm thấy khía cạnh tâm linh của vũ trụ bằng cách đi xuyên qua nội tâm an định. Càng vào định sâu chừng nào thì vũ trụ càng phơi bày rõ ràng chừng nấy.
Khi tâm an trú trong định, thân thể và thế giới vật chất này trở nên mờ nhạt dần, không còn quan trọng như lúc trước nữa. Tuy nhiên, tâm hồn của hành giả lại tỉnh giác hơn, sáng suốt hơn. Chính sự tỉnh giác đó khiến cho hành giả tự tin nơi cái nhìn mới của mình không phải là một ảo giác.
Ngoài ra, những khả năng đặc biệt xuất hiện dần dần càng chứng tỏ tính chân thật của thế giới tâm linh đó. Những vị thánh có thể biết những chuyện từ xa, biết trước chuyện sẽ đến, biết những chuyện còn bị che dấu, và có thể có nhiều thần thông khác. Riêng trong đạo Phật, một vị được gọi là chứng Alahán (Arahanta) phải có đủ sáu loại thần thông. Vị Arahanta có thể biết nhân duyên từ vô lượng kiếp của mình hay của bất cứ chúng sinh nào khác, và dĩ nhiên, biết rõ luật Nhân quả Nghiệp báo đã chi phối chặt chẽ đời sống của chúng sinh như thế nào. Luật Nhân quả là một nguyên lý cực kỳ quan trọng của vũ trụ. Thiếu hiểu biết về Nhân quả, chúng ta mất đi một mảng lớn chân lý trong kiến thức của loài người. (Trường Phật học phải nhanh chóng đưa môn Nghiệp Báo học vào chương trình giảng dạy) Vị Arahanta có thể nhìn thấy chúng sinh tồn tại trong các cõi giới siêu hình khác như cõi trời, địa ngục, ngạ quỷ… Những cõi giới đó vừa độc lập, vừa liên quan đến cõi người chúng ta. Việc hiểu rõ về những cõi giới siêu hình giúp chúng ta sống đúng hơn, đạo đức hơn, khiêm tốn hơn, và đặc biệt là không bị mê tín. Hiểu sai về cõi giới siêu hình là nguyên nhân đưa đến mê tín. Phủ nhận cõi giới siêu hình cũng lại là một khiếm khuyết trầm trọng của tri thức. Thiền phát huy năng lực tâm linh tiềm ẩn nơi mỗi người. Thật ra sức mạnh cơ bắp cũng có một phần yếu tố tâm linh. 
Trí thông minh cũng có một phần yếu tố tâm linh. Khi tâm thanh tịnh, năng lực tâm linh được phát triển dần hỗ trợ cho sức cơ bắp và hoạt động trí não. 
Có thể nói một nội tâm yên tĩnh và sáng suốt là cánh cửa mở ra kho tàng tâm linh bất tận, hay là cánh cửa thông lưu với các cõi giới cao hơn. 
Tâm cũng có tính hai mặt giống như vũ trụ. Khi loạn động, cái tâm đó bị kết dính vào thế giới vật chất. Khi thanh tịnh, cái tâm đó hướng dần lên thế giới tâm linh. Đây là nguyên lý quan trọng của Tâm. 
3. Cảnh giác với những ảo giác và mê tín
Mặc dù Thiền có một ý nghĩa siêu nhiên rất lớn, nhưng nếu không khéo, chúng ta sẽ dễ bị lạc vào những ảo giác và mê tín. 
Ảo giác là những hình ảnh hay âm thanh hiện ra trong tâm mà ta cứ tưởng là những thực thể nên bị dẫn dụ vào thế giới huyễn hoặc hoang đường cho đến khi không còn là con người bình thường được nữa. Ảo giác đó có thể là do chính nội tâm ta tạo nên, hoặc do chúng sinh trong thế giới siêu hình tác động. Dĩ nhiên tất cả đều do nghiệp chi phối. Chúng ta đã bị tổn phước gì đó nên ảo giác mới xuất hiện để phá rối tâm thức. Ảo giác đó có khi là những vị Thánh chúng ta khát ngưỡng, những mơ ước thầm kín, những quá khứ bí ẩn, những cảnh giới lạ lùng đẹp đẽ, những sinh thể kỳ dị, những lời nói đạo lý tuyệt vời… Nếu không hiểu rõ, chúng ta sẽ tin những ảo giác đó là thật rồi tò mò đi theo mãi. Có khi chúng ta còn tự hào cho mình đã thành công trên đường tu tập. 
Hoặc khi nghe nói Thiền là con đường siêu nhiên, chúng ta sẽ nghe lời giải thích sai lạc, hoang đường, thần bí, dối trá của các tà sư về cõi giới siêu hình. Họ thêu dệt hoặc suy diễn không đúng với sự thật, chỉ cốt đề cao cá nhân họ giống như thần thánh, tự cho mình liên lạc được với thế giới siêu hình, dụ dỗ người tin theo để rồi lợi dụng lợi dưỡng hưởng thụ.
Vì vậy, tuy biết Thiền là con đường siêu nhiên vượt thế, nhưng chúng ta không nên chú ý nhiều vào năng lực tâm linh, mà chỉ nên quan tâm đến Đạo đức giới hạnh. Nếu có đánh giá sự tu tập của ai, chúng ta cũng căn cứ trên Đạo đức giới hạnh. Nếu nghe ai nói những điều cao siêu kỳ lạ, chúng ta cũng đừng để bị lung lạc mà chỉ nên để ý đạo đức giới hạnh của người đó. 
4. Cõi tạm bợ
Mọi điều trên đời đều vô thường thay đổi, không tồn tại lâu. Thế giới vật chất này không phải là chỗ chúng ta ở mãi. Nếu tu hành chân chính, chúng ta sẽ tiến lên dần các cõi cao hơn, đó là những cõi trời mà Phật vẫn thường đề cập. Tuy nhiên, sự tu hành chân chính lại được đánh giá theo những gì chúng ta làm được cho thế giới hiện tại này. Vì thế, tuy không tham luyến thế gian, nhưng chúng ta lại rất tận tụy với thế gian này. Đó là Trung đạo chân chính nhất. 
Nhưng rồi những cõi siêu nhiên cao hơn cũng không phải là cái cứu cánh mà đạo Phật nhắm tới. Cứu cánh giải thoát Niết bàn của Phật là một cảnh giới tối cao mà không một ngôn từ nào diễn tả được trọn vẹn. 
Câu hỏi: Trình bày ý nghĩa vừa siêu nhiên vừa thực tế của Thiền
Thiền học 8
ĐIỀU THÂN
1. Điều thân là công phu căn bản
Tuy ý nghĩa chính của Thiền là nhiếp tâm nhưng căn bản của việc nhiếp tâm lại chính là hoàn chỉnh tư thế ngồi của thân. Không phải vô tình mà ba đời chư Phật đều tọa thiền trong tư thế kiết già. Tư thế đó có liên quan chặt chẽ đến công phu nhiếp phục nội tâm. 
Một số người chủ trương dễ dãi về tư thế, cho rằng ngồi như thế nào cũng được, là chưa thấy rõ tầm quan trọng của tư thế kiết già. Đúng là ngoài giờ toạ thiền chính thức thì ta có thể tu trong mọi oai nghi, đứng ngồi gì cũng được. Nhưng trong công phu chính thì tư thế kiết già là bắt buộc. 
Thân và Tâm là một hợp thể thống nhất. Những gì có liên quan đến thân đều có liên quan đến tâm, và ngược lại. Khi muốn giữ gìn sức khỏe của thân thì ta luôn được các thầy thuốc khuyên là phải giữ gìn tâm hồn lành mạnh yên tĩnh. Khi muốn nhiếp phục nội tâm thì ta lại được Phật dạy về công phu điều thân làm nền tảng dụng công. 
2. Ngồi đúng tư thế
Trước khi tọa thiền, ta có thể lễ Phật phát nguyện và cầu gia hộ.
Trải một tấm tọa cụ trên mặt bằng phẳng. Kích thước tọa cụ làm sao rộng hơn diện tích ngồi lên là được. Tọa cụ có thể làm bằng vải dày, bằng chiếu lát, hoặc bằng một miếng nệm mỏng vài phân, miễn sao ngăn hơi ẩm dưới đất thấm lên trên và giúp bớt cấn da thịt là được. 
Sau này có một số vị sử dụng thêm một cái gối kê mông gọi là bồ đoàn. Bồ đoàn làm cho ta có cảm giác đỡ phải ráng giữ lưng cho thẳng do phần mông đã được nâng lên một chút. Tuy nhiên bù lại bồ đoàn cũng có mặt trái. Chính cái cố gắng giữ lưng cho thẳng khiến cho lâu ngày sức mạnh tinh thần của ta mạnh mẽ hơn. Ngồi bồ đoàn làm mất đi ưu điểm này. Thêm nữa, ngồi bồ đoàn, sức nặng cơ thể chỉ còn dồn trên ba điểm: mông, và hai đầu gối, lâu ngày sẽ gây cấn khó chịu. Ngồi không có bồ đoàn, sức nặng toàn thân trải đều trên mông và hai đùi nên dễ chịu hơn. Khi đi đâu, ta cũng không cần phải mang theo bồ đoàn cồng kềnh.
Đừng mặc quần áo bó chặt. Nếu thời tiết mát mẻ, ta có thể ngồi trong Chánh điện mặc áo tràng. Khung cảnh trang nghiêm giúp ta dễ nhận được sự gia hộ của Tam Bảo hơn.
Theo tư thế kiết già, ta bắt chân trái đặt lên đùi phải, sau đó kéo chân phải gát lên đùi trái (thật ra chân phải gát lên cả bắp vế và đùi trái). Do bị bắt tréo nên chân phải ghì xuống rất mạnh khiến cho khớp bàn chân trái chịu lực rất căng. Những người gân khớp bàn chân bị yếu, hoặc người lớn tuổi gân cũng bị yếu thì không chịu nổi sự đè căng như thế, rất đau và không thể yên tâm ngồi lâu được. Vì vậy, cho phép trong trường hợp đó, hành giả được dùng miếng khăn xếp lại kê phụ chịu lực ngay phía dưới khớp bàn chân trái. Nhưng đừng lạm dụng kê độn lên dày quà, chỉ vừa đủ thì thôi.
Hai bàn chân nằm vắt lên hai đùi ở một vị trí vừa phải, không quá sát hông, cũng không quá xa hông. Có vài trường phái Yoga bắt ngồi kéo hai bàn chân sát hông. Thiền đạo Phật không như thế. 
Hai bàn tay đặt chồng lên nhau và cùng ngửa lên trên, nằm trên hai gót chân. Hai ngón cái chạm nhẹ vào nhau. Giữ bàn tay thẳng đẹp, đừng để bàn tay cong vòng. 
Hai cánh tay khuỳnh ra xa hông. Nhớ giữ đừng để hai cánh tay ép sát hông. Giữ hai cánh tay như vậy có vẻ mất công, nhưng đó là điều kiện để tâm thêm sức mạnh. Nếu hai cánh tay lơi lỏng ở gần hông, sau này việc nhập định bị chướng ngại. 
Lưng giữ cho thẳng, nhưng đừng ưỡn thẳng quá sức sẽ làm mau mệt và căng thần kinh não. 
Hai vai xuôi tự nhiên, tránh nghiêng bên cao bên thấp. 
Đầu không ngẩng lên, có vẻ hơi cúi xuống một chút xíu. Đừng để nghiêng qua một bên, hay quay qua một bên.
Thông thường khi lưng bị cong xuống thì đầu lại bị ngẩng lên. Lưng giữ được thẳng thì đầu lại tự nhiên hơi cúi xuống chút xíu. 
Miệng ngậm kín, lưỡi để lên chân răng trên. Khi tâm nhiếp được, tự nhiên răng sẽ cắn chặt với nhau. 
Mắt nên mở rõ và nhìn xuống, đối với thời gian vài năm bắt đầu tu tập. Đến chừng nào hành giả thành tựu Chánh niệm tỉnh giác, dù nhắm mắt mà vẫn không bị mê mờ thì mới nên nhắm mắt. 
Khi mở mắt nhìn xuống, ta nên giữ cho cảnh vật luôn luôn hiện bày rõ ràng, không bị mờ mờ ảo ảo. Giữ tầm mắt nhìn khoảng tám tấc dưới đất phía trước, không ngó đi qua chỗ khác. Tuy nhiên ta lại không chú ý vào ngoại cảnh vì phải lo tập trung kiểm soát toàn thân. 
3. Công phu Điều Thân 
Sai khi ngồi xuống thành lập tư thế hoàn chỉnh chính xác như thế rồi, ta bắt đầu thực hiện công phu Điều Thân.
Trước hết, ta luôn luôn xem chừng, kiểm soát khắp thân xem có phần nào đi sai ra ngoài những tiêu chuẩn đã nêu trên hay không. Những phần đã bị khóa kín như hai chân thì không sợ. Còn lại ta phải để ý xem những phần khác như hai bàn tay có thẳng đẹp không, hai cánh tay có bị ép gần sát hông không, lưng có bị chùng xuống không, hai vai có bị lệch không, đầu có bị nghiêng không, mắt có bị ngó chỗ khác không. 
Tuy ngồi bất động không nhúc nhích, nhưng cứ phải kiểm tra tới lui hoài các phần của cơ thể. Đó là công phu Điều thân căn bản, mà bất cứ cái gì căn bản đều quan trọng. 
Khi vọng tưởng khởi lên khiến ta bị quên thì thôi, còn khi sực tỉnh thì không cần diệt trừ vọng tưởng, mà chỉ cần quay trở lại kiểm tra tất cả bộ phận cơ thể là đủ. 
Phần Điều thân kế tiếp là kiểm tra toàn thân xem có được mềm mại và bất động chưa. 
Chúng ta dễ bị hai lỗi là gồng cứng vài cơ bắp nào đó, hoặc nhúc nhích một vài bộ phận nào đó. Hai lỗi đó làm tâm bị chướng ngại, vì như ta đã biết, mỗi phần trên cơ thể đều có liên quan đến một khu vực của não. Thân bị lay động hay căng thẳng gồng cứng thì não cũng ảnh hưởng theo.
Khi thân ta giữ được buông lỏng, mềm mại, đồng thời cũng không nhúc nhích, não sẽ bắt đầu ổn định dần dần. Những stress tiềm tàng trong não từ lâu cũng bắt đầu được tháo gỡ. 
Ban đầu ta kiểm tra liên tục xem toàn thân có chỗ nào bị sai tư thế không; kế đến ta kiểm tra một cách tinh tế hơn là xem có bộ phận nào bị gồng cứng hay nhúc nhích không, toàn thân có được mềm mại và bất động chưa, nhất là các ngón tay, ngón chân, bắp đùi, bắp vế, bắp tay. Sự kiểm tra thường xuyên như thế chính là công phu Điều thân. Kiểm tra tư thế là Điều thân ở mức độ cơ bản; kiểm tra sự mềm mại bất động là Điều thân ở mức độ sâu hơn. 
Giữ thân nghiêm trang cũng chính là giữ tâm nghiêm trang; giữ thân bất động cũng chính là giữ tâm có điều kiện bất động; giữ thân mềm mại cũng chính là giữ tâm có điều kiện thư giãn khinh an. 
Ngay trong lần thực hành tọa thiền đầu tiên, ta nên cố gắng Điều thân 30 phút. Hãy lấy thân làm gốc cho tâm. Đây là nguyên tắc vàng của công phu tu tập thiền định. Sau này ta sẽ dần dần thấy rõ sự nhiếp tâm không bao giờ rời xa sự kiểm soát thân. Điều thân cho đúng là bắt đầu và cũng là vĩnh viễn. 
Thời gian thực hành Điều thân kỹ lưỡng chuyên chú như vậy phải được một tháng trở lên. Sau đó ta sẽ bước sang các công phu kế tiếp của Thiền định chồng ghép lên trên công phu Điều thân này. 
Câu hỏi: Hãy học thuộc lòng bài Điều Thân này, và viết lại đầy đủ những ý chính mà không cần xem tài liệu.
Thich Chân Quang
TTđTD - trích từ: GIÁO TRÌNH THIỀN HỌC

Không có nhận xét nào: