Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2016

2. CƠ CHẾ SINH LÝ, KHÍ LỰC VÀ TÂM LÝ CỦA THIỀN

Đọc trước:  1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ ĐỊNH NGHĨA VỀ THIỀN
Với quyết tâm và phương pháp đúng đắn, hành giả sẽ dần dần dừng được tư tưởng thô. Sau đó, hành giả phải tiếp tục cảnh giác với tư tưởng tế vốn rất khó thấy vì không có ngôn ngữ rõ rệt. Có nhiều khi thấy tâm mình trống không, hành giả tưởng mình được thanh tịnh, không ngờ vẫn đang còn rất nhiều tư tưởng tế với vô số ý niệm vô hình đang tuôn trào. Nguy hiểm nhất là những tư tưởng có tính tự khen ngợi mình, có tính kiêu mạn. Những tư tưởng đó sẽ phá hoại hết mọi công đức và phá vỡ công phu tu hành.
Thiền học 4
CƠ CHẾ SINH LÝ CỦA THIỀN
1. Não bộ
Hoạt động của tâm thức gắn liền với hoạt động của não bộ. Chúng ta dùng chữ gắn liền để ám chỉ ý nghĩa có liên quan mật thiết nhưng không phải là một. Điều này có nghĩa là những hoạt động của tâm thức vừa dựa vào não bộ, vừa có thể độc lập với não bộ. Nếu não bộ bị tổn thương, lập tức tâm thức con người bị rối loạn, bởi vì tâm thức gắn liền với não bộ. Tuy nhiên khi chết, thần thức thoát khỏi xác, tâm thức thoát khỏi não bộ, thế mà tâm thức đó vẫn tiếp tục hoạt động, bởi vì tâm thức vẫn có thể độc lập với não bộ. Chính vì vấn đề có tính hai mặt đó mà chúng ta không được xem não bộ là tất cả của tâm thức, hay của Thiền. Nếu nghiên cứu Thiền mà chỉ đơn thuần dựa vào não bộ thì vẫn là phiếm diện. Nhưng nếu không biết gì về não bộ thì cũng lại là một thiếu sót. Khoa học vẫn đang ra sức tìm hiểu về não bộ của con người. Nhiều chức năng của não được khám phá dần dần. Trước hết, khi tâm thức hoạt động có nghĩa là não bộ hoạt động; ngược lại, khi tâm thức yên tĩnh có nghĩa là não bộ bớt hoạt động. Có một số dược chất có khả năng gây ức chế khiến não bộ bớt hoạt động, tạo ra cảm giác êm ả tạm thời. Thuốc phiện là một trong các loại đó. Tuy nhiên, những dược chất đó đều gây hiệu quả phụ, ví dụ như lệ thuộc (nghiện), mất sức đề kháng, suy giảm đạo đức… 
Thiền là công việc làm giảm bớt hoạt động não bộ chỉ bằng chính tâm thức của mình. Có thể xác định Thiền là dùng tâm thức để làm yên lắng tâm thức, không dùng phương tiện bên ngoài. 
Não bộ có nhiều trung khu thần kinh với các chức năng phức tạp khác nhau, nhưng liên lạc chặt chẽ với nhau. Các tế bào não truyền tín hiệu cho nhau vừa bằng các phân tử hóa học, vừa bằng sóng não. Hiện nay có máy đo sóng não. Tạm thời người ta chia não bộ ra những phần chính: cuống não, hành não, đồi thị, vỏ não (thuộc đại não), đại não và tiểu não. 
Trong não cũng có các tuyến nội tiết như tuyến tùng, tuyến yên, điều khiển hoạt động của các tuyến nội tiết khác ở cơ thể bên dưới như tuyến giáp, tuyến thượng thận, tuyến sinh dục…
Máu đưa dưỡng chất lên nuôi não như glucose, protein, oxygen, vitamin… Áp lực của máu lên não cũng là vấn đề rất quan trọng. Áp lực máu bị thiếu cũng làm giảm khả năng của não. Áp lực máu bị cao cũng gây nguy hiểm tai biến mạch máu não với những hậu quả khôn lường.
2. Hai hệ thần kinh đối lập
a. Hệ thần kinh thực vật và hệ thần kinh động vật
Thần kinh động vật là thần kinh hoạt động theo ý muốn của chủ thể (con người). Nó bao gồm những cảm giác, phản xạ, suy tư, tình cảm, sáng tạo, truyền mệnh lệnh cho cơ thể bên dưới. Có những vùng não có khuynh hướng hoạt động liên tục, và ngược lại, có những vùng não có chức năng ức chế sự hoạt động đó. Điều này có ý nghĩa lớn với người tu Thiền muốn giảm dần hoạt động của ý nghĩ.
Thần kinh thực vật là thần kinh tự động, độc lập ngoài ý muốn của chủ thể, điều khiển sự hô hấp, tiêu hóa, tuần hoàn, và những tâm thức sâu kín bí mật khác.
Tuy nhiên cũng có những hoạt động pha trộn cả hai, ví dụ như hơi thở, vừa tự động nhưng cũng có thể được điều chỉnh theo ý muốn. Hơi thở là trung gian giữa hai hệ thần kinh nên sử dụng hơi thở để tu Thiền là phương pháp tối ưu. 
Khi vào định sâu, người ta bắt đầu kiểm soát được cả thần kinh thực vật. Có những thiền sư hay đạo sĩ có thể làm cho tim giảm nhịp đập theo ý muốn.
b. Hệ thần kinh giao cảm và đối giao cảm
Hai hệ thần kinh này thuộc hệ thống thần kinh thực vật. Hệ giao cảm làm tăng cường các hoạt động của cơ, nội tiết, và cũng thúc đẩy ý tưởng tuôn trào. Ngược lại, hệ đối giao cảm làm ức chế các hoạt động đó, và cũng có nghĩa làm dịu bớt vọng tưởng tuôn trào. 
Tuy nhiên, điểm khác biệt là mặc dù người tu Thiền phải làm cho ý nghĩ giảm đi nhưng vẫn phải giữ sự tỉnh táo thường xuyên. Đây là trạng thái chưa được nghiên cứu trong sinh lý của Não bộ.
3. Tránh những kích thích dây chuyền cho não
Bình thường từ trong sâu thẳm, các neurone (tế bào não) vẫn tự duy trì hoạt động bằng cách liên tục kích thích lẫn nhau, qua lại. Các tín hiệu cứ chuyển đi lan tràn khắp cả não. Những dữ liệu được chứa đựng trong não sẽ kích thích não hoạt động. bản năng tự duy trì hoạt động của chính mình được xem như là bản ngã.
Rồi trong suốt cuộc sống, những dữ liệu bên ngoài cứ tiếp tục được đưa thêm vào cũng kích thích não tiếp tục hoạt động.
Rồi chính những hoạt động cố ý của chúng ta như suy nghĩ, tưởng tượng, sáng tạo, mơ mộng, giận dữ, tham lam,… cũng kích thích các neurone lan truyền tín hiệu thành thói quen. Vì vậy, để giúp cho tâm an trú trong thiền được ổn định, chúng ta phải tránh gây nên những kích thích ban đầu như nóng giận, tham lam, ích kỷ … Chúng ta cũng xóa đi những thói quen nghĩ ngợi lung tung để cho các neurone không còn thói quen hưng phấn.
Những ý tưởng tiêu cực như tham lam, nóng giận, ích kỷ thì gây hưng phấn lan truyền cho não; trong khi những ý tưởng tích cực như vị tha, hiền lành, hy sinh, … lại giúp ức chế, nghĩa là giúp não bớt hoạt động.
4. Tác động của đời sống
Chất serotonin tiết ra từ cuống não gây thành chất ngủ cũng là chất giúp não bớt hưng phấn trong đời sống bình thường. Nếu mất ngủ hoặc ít ngủ, serotonin ít phóng thích cũng gây não hưng phấn nghĩa là căng thẳng. Vì vậy, chúng ta phải quý giấc ngủ, không được ráng thức để làm việc trừ trường hợp bất đắc dĩ. Nên ngủ đúng giờ để dễ ngủ. Khi ngủ phải tác ý ngủ sâu. Ý niệm về từ bi cũng giúp giấc ngủ tốt hơn. tuy nhiên, ngủ quá cũng làm suy yếu thùy trán vốn chịu trách nhiệm về sự tỉnh giác.
Thức ăn chiếm một vị trí quan trọng trong việc tác động lên hoạt động của não. Có nhiều chất gây hưng phấn neurone quá mức như rượu, thuốc lá, ma túy tổng hợp, một số loại hóa dược, một số gia vị, một số loại thức ăn nào đó … Điều này ta phải khéo để ý trong cuộc sống để rút kinh nghiệm.
Những hoạt động thể lực tay chân lại có lợi cho việc làm dịu đi sự hoạt hóa của neurone. Do đó, nên duy trì những lao động thủ công sơ đẳng dù ta có làm việc bằng đầu óc nhiều hơn.
Những hoạt động thể dục rất tốt cho sự ức chế não. Tuy nhiên sự hơn thua quá mức trong thi đấu thể thao lại kích thích não hưng phấn vô ích.
Những giải trí như đánh cờ lại sử dụng năng lực não rất nhiều và khiến não bị kích thích liên tục. Những trò vui ồn náo đông đảo cũng gây kích thích não vô ích.
Tuy nhiên những hoạt động từ thiện chân thành, kín đáo, khiêm tốn, tận tụy lại giúp não tỉnh táo và yên lắng hơn.
Câu hỏi: Hãy nêu những kinh nghiệm bản thân cụ thể về ảnh hưởng của đời sống lên thiền định.
Thiền học 5
CƠ CHẾ KHÍ LỰC CỦA THIỀN
1. Ý nghĩa của Âm Dương
Quy luật Âm Dương được khám phá tại Trung Hoa và Việt Nam khoảng 2000 năm trước Công nguyên. Từ nguyên lý Âm Dương này, người xưa đã phát triển thành Ngũ Hành, Bát Quái để làm chỗ dựa cho việc quan sát con người và vũ trụ. Điều đặc biệt là hệ thống triết học này được ứng dụng cho rất nhiều lãnh vực như Y học, Dự đoán, Võ học, Phong thủy, Nhân tướng học, Tử vi… và cả Chiến trận. Sự tồn tại suốt mấy ngàn năm của hệ thống triết học này cũng cho chúng ta một nhận xét là người xưa cũng đã đạt được những kết quả nhất định nào đó khi dựa vào đó.
Trước hết, Âm có nghĩa là phần khuất kín. Dương có nghĩa là phần phô bày.
Ví dụ như nơi một cái cây, phần gốc rễ chìm khuất phía dưới là âm, và phần mọc lộ ra trên đất là dương. 
Nơi một căn nhà, phần móng chìm sâu trong đất là âm, và phần tường vách mái hiện ra cho ta sử dụng trực tiếp là dương. 
Ở một computer, phần vi mạch bên trong cái case là âm, và màn hình monitor cho chúng ta quan sát bên ngoài là dương. 
Nơi con người, phần trước mặt mọi người nhìn thấy nhau là dương, và phần lưng là âm; phần trên từ rốn trở lên là dương, và phần từ rốn xuống đến chân là âm; phần da vẻ bên ngoài là dương, và phần nội tạng là âm; phần hành vi lời nói bên ngoài là dương, và tâm lý bên trong là âm… 
Phần Dương là phần chúng ta trực tiếp sử dụng, tiếp xúc, và phần Âm là phần chúng ta ít để ý nhưng lại là gốc, là cơ sở, là nơi xuất phát của Dương. Âm càng to càng vững chừng nào thì Dương sẽ có điều kiện phát triển chừng nấy. Bộ rễ to lớn là điều kiện cho cây trở thành đại thụ. Móng nhà sâu lớn là điều kiện cho nhà vươn cao. Một tâm lý độ lượng là điều kiện cho hành vi ngôn ngữ tốt đẹp… 
Nếu phần Dương lớn hơn phần Âm thì toàn bộ cơ cấu đó bắt đầu có nguy cơ suy thoái sớm, không tồn tại lâu. Nếu bộ rễ của cây nhỏ hơn phần thân nhánh phía trên thì cây đó có tuổi thọ ngắn. Nếu móng không bắt chân rất sâu thì ngôi nhà sẽ mau lún. Nếu Đạo đức của một người ít thì Tài năng không phát triển lớn lao. Vì vậy, hiểu được tính chất này, chúng ta phải luôn luôn củng cố phần gốc, nghĩa là phần Âm, của cuộc sống, của sức khỏe, của công phu tu hành, của công việc…
2. Cơ chế khí lực của Thiền
Theo hệ thống Tam nghiệp thân khẩu ý thì tâm ý thuộc về phần Âm, không nhìn thấy được. Nhưng theo hệ thống khí lực của cơ thể thì hoạt động của tâm ý ở trên đầu lại là phần cực Dương. Đối nghịch với Đầu là hai lòng bàn chân, phần cực Âm. 
Vì Đầu là phần cực Dương nên nếu ta sử dụng đầu óc nhiều quá, hoặc tu thiền mà để ý trên đầu nhiều quá thì trong cơ thể ta, phần Dương đang dần dần lấn phần Âm, và nguy cơ suy thoái bệnh tật đổ vỡ cũng đang tiến đến từ từ. 
Nếu người nào có được hai chân khỏe thì chắc chắn người đó cũng có tinh thần mạnh. Nếu người nào hai chân bị yếu thì toàn bộ cơ thể cũng yếu và tinh thần cũng yếu. Trong tướng số, ai có hai chân yếu sẽ khó làm nên sự nghiệp lâu bền. Vì vậy, trong việc bảo vệ sức khỏe và tinh thần, việc tập luyện hai chân là vô cùng quan trọng. 
Thường thì khi tu thiền, người ta hay bị để ý trên đầu nhiều, nghĩa là thiên về Dương, nên Phật dạy chúng ta phải đi kinh hành hoạt động hai chân để bù lại phần Âm dễ bị bỏ quên. 
Hệ thống bụng dưới ở huyệt Đan điền cho đến bộ phận sinh dục với huyệt Hội âm, Dương cường, cũng là phần Âm cực kỳ quan trọng cho tinh thần và sức khỏe. Nếu nguyên hệ thống đó khỏe mạnh vững chắc thì con người sẽ ổn định và khoan khoái. Nếu hệ thống đó yếu thì con người sẽ èo uột và dễ dao động. Những vị tu theo Tiên đạo luôn luôn xem việc luyện tập hệ thống bụng dưới là ưu tiên hàng đầu. Ngay cả những người tu thiền, nếu không có bụng dưới mạnh thì cũng không nhiếp tâm được. Trong pháp môn tu tập quán niệm hơi thở, Phật cũng dạy biết rõ toàn thân cũng có nghĩa là rèn luyện phần Âm ở dưới. 
Phương pháp Cố căn 
Có một phương pháp làm mạnh lên hai huyệt đạo quan trọng Hội âm và Dương cường, và cũng có nghĩa là làm cho đầu óc tỉnh táo rỗng rang hơn, đó là phương pháp cố căn. Vì hậu môn con người nằm giữa hai huyệt Hội âm và Dương cường nên khi nhíu chặt hậu môn thì hai huyệt trên được củng cố. Khi hít vào, ta nín thở, và thực hiện cố căn ba lần, rồi thở ra. Tập luyện cố căn như vậy, tâm rất dễ nhiếp, và chữa được những bệnh thuộc về thần kinh não. Nhiều người tập khí công có tập cố căn như thế, đến khi chuyển qua tu thiền luôn được kết quả tốt. 
Ngoài lúc tập "cố căn", chúng ta cũng thường xuyên để tâm ở phía dưới phần bụng, chân, hai lòng bàn tay khi đặt tay dưới bụng lúc ngồi kiết già, cũng là giúp củng cố thêm phần Âm của cơ thể. 
Tu thiền là phải kiểm soát tâm, nhưng nếu chỉ biết để ý phía trên đầu thì Âm lực sẽ mất dần. Đến lúc nào Âm lực không còn nữa thì bệnh thần kinh sẽ xuất hiện. Bệnh thần kinh não hầu hết là do căng thẳng, có nghĩa là lực chạy dồn lên đầu quá nhiều. Âm lực dưới bụng và chân có tác dụng giữ không cho lực bốc lên trên đầu. Khi Âm lực bị mất, Lực tự do bốc lên trên làm não bộ bị căng thẳng, hư hao, bệnh hoạn. Thần kinh não bệnh quá nặng có thể phá vỡ luôn trạng thái tâm thần, nghĩa là điên. 
Vì vậy, tuy phải kiểm soát tâm phía trên, nhưng chúng ta phải chia tâm xuống dưới, biết nhẹ nhàng phía dưới. Sau này, khi tâm vào định, chúng ta vẫn tiếp tục thấy rõ toàn thân chứ không bỏ thân. Nhiều người không biết điều này, tu thiền chỉ để ý trên đầu, khi vào định thì càng bỏ mất thân, vì thế Lực bốc cuồn cuộn lên trên, chẳng mấy chốc bị hư mất bộ não thành ra phế nhân. 
3. Bảo vệ chân Âm
Chân Âm là từ ngữ của Y học Đông phương, ám chỉ khí lực vô hình tiềm tàng của phần Âm bên dưới cơ thể. Chân Âm sung mãn là điều kiện để não bộ được bền vững, công phu tu thiền được tăng tiến. Có người có phước bẩm sinh được Chân Âm mạnh; có người yếu. Người tu thiền phải biết bảo vệ Chân Âm một cách kỹ lưỡng.
- Không hoạt động thái quá về đầu óc, hoặc giác quan trên đầu mặt. Ngay cả việc xem Tivi nhiều cũng làm khí lực bốc lên trên. Đọc sách, lắng nghe, viết lách, sáng tác…. nhiều quá cũng khiến khí lực bốc lên. Làm người thì phải sử dụng đầu óc, nhưng chúng ta phải biết cân đối vừa phải, và biết giải tỏa stress, nghĩa là phải biết vận động tay chân đơn giản, biết tọa thiền để tâm xuống dưới….
- Những dục lạc thế gian cũng làm hao tổn Chân Âm. Đó chính là lý do người muốn tăng tiến tâm linh phải sống đời thanh bai trong sạch. Niềm vui cao thượng từ đạo đức thì rất tốt, nhưng những khoái lạc thì ngược lại.
- Có những thực phẩm cay nồng như ớt tiêu, rượu cũng làm hao bớt Chân Âm. Có những hóa chất thực phẩm như hàn the, bột ngọt (mì chính), formaldehyte ướp thực phẩm, phẩm màu nhân tạo, đường hóa học… cũng làm hao tổn Chân Âm. 
- Có những hóa dược trị bệnh, trị bệnh nào đó nhanh chóng nhưng lại phá dần Chân Âm, nhất là các loại thuốc giảm đau. 
Chúng ta phải cẩn thận tránh những tác nhân có hại cho Chân Âm để giúp ích cho công phu Thiền định.
Câu hỏi: Quan sát thêm về cơ cấu Âm Dương trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Thiền học 6
CƠ CHẾ TÂM LÝ CỦA THIỀN
1. Hệ thống Tâm thức
Trên thế giới có nhiều trường phái Tâm lý học, và mỗi trường phái có cách nhìn khác nhau về hệ thống Tâm thức. Trong đạo Phật, chúng ta dựa vào cấu trúc Năm Uẩn của Phật dạy để quan sát Tâm thức. Sau này giáo lý Đại thừa có phát minh Duy thức học để nghiên cứu Tâm thức.
Cấu trúc Năm Uẩn được liệt kê như sau:
- Sắc uẩn: là thân thể với hình tướng rõ rệt. Chúng sinh cõi người thì Sắc uẩn là tấm thân vật chất; chư Thiên thì Sắc uẩn là thân thể rất lớn và bằng chất liệu siêu nhiên.
- Thọ uẩn: là phần Cảm giác khổ vui, dễ chịu, khó chịu, bực bội, thoải mái. Ngoài ra còn một cảm giác trơ, không khổ không vui. Thọ uẩn liên quan đến toàn bộ hệ thống thần kinh khắp cơ thể.
- Tưởng uẩn: là phần nổi của tâm, hiện ra những suy nghĩ, tưởng tượng, hồi ức… đã được biến thành ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh… rõ rệt. Tưởng uẩn liên quan đến vùng thần kinh Broca và thùy trán. Ý thức có thể thấy được hoạt động của Tưởng và Thọ uẩn nên Tưởng và Thọ được xếp vào phần Ý thức của Tâm.
- Hành uẩn: là phần chìm sâu của tâm thức, rất lớn, chịu trách nhiệm gần như toàn bộ hoạt động của Tâm như tìm tòi, sáng tạo, suy luận, hồi tưởng, quyết định, điều khiển cơ thể… Hoạt động của Hành uẩn rất nhanh, Ý thức của chúng ta không thấy kịp, vì vậy Hành uẩn được xếp vào phần Vô thức của Tâm. Hành uẩn cũng chứa đựng các Bản năng tự nhiên của con người như Bản năng sinh tồn, bản năng hưởng thụ. Bản ngã cũng tồn tại ở đây. Khi Tâm vào được định thì Hành uẩn lại là nơi khởi phát thần thông.
- Thức uẩn: là tất cả những cái biết của Tâm. Cái biết là bản chất của Tâm thức. Không có biết thì không phải là Tâm. Có nhiều mức độ biết khác nhau. Cái biết của năm giác quan (nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân); cái biết của Ý thức (tự biết nội tâm của mình); cái nhận hiểu được khi học, đọc, nghe, nhìn những vấn đề trừu tượng; cái biết của trực giác thần thông; cái biết của tâm tỉnh giác trong Định… Tốc độ của Thức uẩn rất nhanh, gấp ngàn lần Hành uẩn. Người thông minh thì Thức uẩn mạnh hơn người khác.
Ngoài ra, kèm theo Năm Uẩn, ta có thêm những thành phần sau:
- Ký ức: là bộ nhớ ghi lại những dữ liệu đã được đón nhận từ bên ngoài vào hay khởi từ nội tâm ra. Có người có khả năng tìm lại dữ liệu rất mạnh, có người dễ quên. Trong Ký ức, tính tình tốt xấu, sở thích đa dạng cũng được cất giữ và chi phối suy nghĩ hành vi của con người. 
- Tình cảm: là tất cả những thương ghét, giận hờn, ham muốn, khát khao, chán nản, sợ hãi… Tình cảm liên hệ trực tiếp với thần kinh Tim, và là động cơ cho hầu hết mọi hành vi tạo Nghiệp của chúng sinh.
2. Các loại tư tưởng
- Tư tưởng cố ý: là những tư tưởng có chủ đích, vì công việc bắt buộc phải suy nghĩ. Nếu đó là những công việc chính đáng, có lợi cho chúng sinh, thuộc về Thiện pháp thì tư tưởng cố ý tạo nên phước, không có lỗi, giúp việc nhiếp tâm trong thiền được dễ dàng. Tuy nhiên ta cũng không được lạm dụng để suy nghĩ nhiều.
- Tư tưởng vẩn vơ: là những tư tưởng tự dưng khởi lên trong tâm mà ta không muốn, nên còn gọi là vọng tưởng. Tư tưởng vẩn vơ xuất hiện do thói quen của não muốn duy trì hoạt động để tồn tại. Có khi tư tưởng vẩn vơ khởi lên từ Ký ức; có khi khởi lên từ chế tác của Hành uẩn. Đây là cửa ải đầu tiên và cũng vất vả nhất cho người tu thiền. 
- Tư tưởng thiện: là những tư tưởng tốt lành, phù hợp với Đạo lý, có tính chất vị tha, đối với bản thân thì khiêm hạ. Những tư tưởng này là những viên gạch xây nền cho Chánh niệm, Chánh định về sau. Tư tưởng thiện cũng thuộc về Chánh tư duy trong Bát Chánh đạo. Khi tư tưởng thiện làm chủ tâm hồn thì tâm tự nhiên yên lắng và tỉnh giác. Có thể nói tâm thiện và tâm định nằm chung một phía.
- Tư tưởng bất thiện: là những tư tưởng ích kỷ, ác độc, tham lam, ganh ghét, tự cao… Tư tưởng này làm tâm bất an dần dần, có thể đưa tới điên loạn về sau. Có thể nói tâm bất thiện và tâm định nằm về hai phía trái ngược nhau. Tuy nhiên, Tư tưởng thiện hay bất thiện đều phải được khẳng định bởi hành vi. Nếu chưa tạo thành hành vi thì tư tưởng đó chưa mạnh. Tâm an định là bước đi về Vô ngã, mà Vô ngã là điều thiện lớn nhất, cho nên, ngoài những lúc phải bận tâm lo công việc chính đáng, còn lại ta phải gắng giữ tâm thanh tịnh. Không nên cho rằng đó là tư tưởng thiện rồi cứ suy nghĩ hoài làm không nhiếp tâm được để đi đến Vô ngã. Ngược lại, nếu cho rằng tâm thanh tịnh là quý nhất nên ta tìm cách tránh né công việc bổn phận để lo giữ tâm thanh tịnh thì đó lại là Ác, vì bắt người khác phải làm thay mình. Điều ác này chất chứa lâu ngày cũng tạo ra quả báo xấu và bất an. 
- Tư tưởng thô: là tư tưởng có ngôn ngữ, được diễn tả bằng ngôn ngữ. Thường là tư tưởng này hay có hình ảnh đi kèm. Tư tưởng này xuất hiện ở vùng Broca gần thùy trán. Chính những hình ảnh khởi lên tại đây tác động trực tiếp vào thùy trán, làm thùy trán bị mờ, mất tỉnh giác.
- Tư tưởng tế: là tư tưởng chưa biểu hiện thành ngôn ngữ, chỉ là ý niệm đơn thuần, xuất hiện ở vùng Wermicke gần phía sau não. Từ vùng wermicke này, tư tưởng được trang bị thêm ngôn ngữ để chuyển đến vùng Broca gần thùy trán. 
Với quyết tâm và phương pháp đúng đắn, hành giả sẽ dần dần dừng được tư tưởng thô. Sau đó, hành giả phải tiếp tục cảnh giác với tư tưởng tế vốn rất khó thấy vì không có ngôn ngữ rõ rệt. Có nhiều khi thấy tâm mình trống không, hành giả tưởng mình được thanh tịnh, không ngờ vẫn đang còn rất nhiều tư tưởng tế với vô số ý niệm vô hình đang tuôn trào. Nguy hiểm nhất là những tư tưởng có tính tự khen ngợi mình, có tính kiêu mạn. Những tư tưởng đó sẽ phá hoại hết mọi công đức và phá vỡ công phu tu hành.
3. Vai trò của Ý thức
Ý thức là cái biết chính nội tâm của mình. Khi ta suy nghĩ điều gì, ta vẫn biết ta đang suy nghĩ điều đó. Khi ta thương hay ghét ai, ta vẫn biết mình đang thương ghét như thế. Bên cạnh các hoạt động nhộn nhịp của Tâm thức, vẫn có một cái biết âm thầm biết (theo dõi) các hoạt động đó. Chính nhờ Ý thức độc lập khỏi tư tưởng tình cảm mà ta mới có thể dần dần tu tập để dừng được vọng tưởng. 
Hãy cho một ví dụ để so sánh như sau: Ví dụ ta đang ngồi xem nhiều người đùa giỡn trước mặt. Rồi có khi ta bị lôi kéo để nhào theo vui đùa, hoặc có khi ta chỉ ngồi yên theo dõi.
Cũng vậy, Ý thức giống như người theo dõi những kẻ trước mặt vui đùa. Có khi Ý thức chìm theo tư tưởng để suy luận, sáng tạo, gia tăng sức mạnh cho tư tưởng… Nhưng cũng có khi Ý thức lặng lẽ biết mà thôi, độc lập tách khỏi tư tưởng, khiến cho tư tưởng yếu đi và tắt. 
Yếu chỉ của việc tu thiền chính là cố gắng giữ cho Ý thức luôn luôn độc lập với vọng tưởng, biết rõ tưởng nhưng độc lập với vọng tưởng, và tiến tới chấm dứt vọng tưởng. Nói thì dễ, nhưng hành giả phải có nhiều công đức và quyết tâm mới có thể tách ra được như vậy.
Câu hỏi: Bạn thấy gì khi quan sát nội tâm của mình? Bạn có tách ra khỏi vọng tưởng được chưa?
Thich Chân Quang
TTđTD - trích từ: GIÁO TRÌNH THIỀN HỌC
Đọc tiếp: 3. Ý NGHĨA SIÊU NHIÊN VÀ ĐIỀU THÂN

Không có nhận xét nào: