Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2016

TÌM HIỂU VỀ CẤP ĐỘ TÂM LINH

Từ thế kỷ XX nhiều nhà khoa học lớn trên thế giới nói: Thế kỷ XXI là thế kỷ của tâm linh (TL), TL là khoa học. Như vậy TL có vai trò quan trọng trong đời sống của nhân loại. Nhiều nước tiên tiến đã chú trọng nghiên cứu và ứng dụng TL vào đời sống. Tuy vậy việc tìm hiểu về TL vẫn là câu hỏi lớn với mọi dân tộc. TL là gì và tác động như thế nào đối với con người, các cấp độ TL ra sao, làm gì để có đời sống TL an ổn và phát triển…vẫn có nhiều ý kiến trái chiều.

I. TÂM LINH TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

1. Tâm linh với tín ngưỡng, tôn giáo

Trong quá trình giao tiếp với thiên nhiên con người đã hình thành những niềm tin và sự ngưỡng mộ với các hiện tượng siêu nhiên, gọi là tín ngưỡng. Tập quán thờ cúng hỗn dung trong đó có giỗ tổ Hùng Vương, hệ thống thờ Tứ phủ (đạo Mẫu), thờ các anh hùng dân tộc (đức thánh Trần), các nhân vật truyền thuyết (Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử)…

Từ thời xưa, tục thờ thần, thờ thánh của người Việt đã thể hiện rõ bản chất tín ngưỡng đa thần bản địa. Ông cha ta đã bảo lưu rất nhiều hình thái tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Sẽ thấy sự hiện diện của những hình thái sơ khai từ thời nguyên thủy như tín ngưỡng vạn vật hữu linh, thờ sinh thực khí với hành vi giao phối, thờ thần thiên nhiên như Tứ pháp (mây, mưa, sấm, chớp), thờ động vật, thờ nhân thần, thờ cúng tổ tiên…Với hệ thống nhân thần, những nhân vật được thờ phụng thường là các vị anh hùng có công với nước, giúp dân khai hoang lập ấp, hay những nhân vật có công dựng nghề khởi nghiệp. Bên cạnh đó, các vị thần nhiều khi cũng chỉ là những nhân vật hết sức bình thường, thậm chí tầm thường như một người chết bất đắc kỳ tử, một tay ăn trộm, tướng cướp hay kẻ ăn mày, người hót phân… Những nhân thần dạng này hầu hết giống nhau ở chỗ đều… chết vào “giờ thiêng” nên linh ứng với cộng đồng, khiến cho người dân khiếp sợ mà lập đền thờ phụng. Về sau, người Việt du nhập thêm những tôn giáo bên ngoài như Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo, Ấn Độ giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo…, bên cạnh đó, cũng tiếp tục sáng tạo thêm những tôn giáo mới dựa trên sự dung hợp hay cải biên các tôn giáo du nhập như đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo… Với những tín ngưỡng dân gian, hành vi cúng lễ bao giờ cũng mang tính thực dụng cao. Người ta cúng cho thần thánh con trâu, con lợn, con gà, vật phẩm này nọ… có nghĩa mong muốn đấng siêu nhiên phải phù trợ cho cộng đồng mùa màng bội thu, tài lộc may mắn… Động cơ vụ lợi của con người trong tín ngưỡng có lẽ cần được xem là đặc điểm “xưa như trái đất”. Chính vì thế, bản thân nhiều tôn giáo ngoại nhập cũng dần dà được người Việt bản địa hóa với sự đan xen pha trộn đủ loại, đủ mầu sắc khác nhau, bất kể bản chất những tín ngưỡng tôn giáo có mâu thuẫn với nhau như thế nào. Hàng năm cả nước có hàng trăm lễ hội dân gian trên mọi vùng miền, trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

Ở Việt Nam có nhiều tôn giáo lớn, tiêu biểu là đạo Phật đồng hành cùng dân tộc hàng ngàn năm. Nhiều người sống, làm việc, tu dưỡng hàng ngày theo giáo lý nhà Phật. Họ coi đó là con đường tốt nhất để thoát khỏi đau khổ của đời người. Dù có nhiều thăng trầm theo thời cuộc song Phật giáo đã ăn sâu vào tiềm thức của một bộ phận dân cư và có xu hướng phát triển. Những nơi đạo Phật và một số tôn giáo khác thịnh hành con người tin ở nhân quả trở nên thuần hậu, nhân ái hơn, tệ nạn xã hội ít hơn.

Tín ngưỡng, tôn giáo luôn gắn với TL và mang tính TL. Có thể nói TL như một vườn hoa đẹp có nhiều cổng. Tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật là những cổng vào vườn TL cùng vô vàn cánh cổng khác. Người Việt Nam từ xa xưa đã nhận thức về tín ngưỡng, tôn giáo, TL sâu sắc và có đời sống TL phong phú . Mọi hoạt động của con người từ hơi thở, ăn, mặc , ở, tình duyên, lao động, ca múa… đều chứa đựng màu sắc TL.

2. Tâm linh với khoa học

Nhiều nhà khoa học trên thế giới xác nhận: TL đồng hành với khoa học, TL là khoa học, không đối lập nhau như một số người nghĩ.André Malraux nhà văn, nhà chính trị Pháp nói: “ Khoa học của thế kỷ XXI phải là khoa học TL, nếu không sẽ không làm gì còn khoa học nữa”.

Nhiều thành tựu khoa học đã được các nhà ngoại cảm, chiêm tinh, tiên tri nói đến trước đó rất lâu. Thực chất là khoa học tự điều chỉnh trong quá trình phát triển để tiếp cận và hòa hợp với TL. “Vật lý cổ điển đã bị đánh đổ bởi vật lý hiện đại, vật lý hạ nguyên tử ”. (Tr 3, Khoa học và vấn đề TL – GS.TS Đoàn Xuân Mượu, NXB Thanh Niên – 2010).Và “Phàm việc chữa bệnh phải bắt đầu từ bên trong, phần TL mới là chính, cái vỏ vật chất bên ngoài chỉ là phần phụ thuộc…để chữa tuyệt căn của con bệnh thì phải khắc phục trước hết các yếu tố tinh thần” ( Tr.171 Loài người từ đâu về đâu, GS.TS Đoàn Xuân Mượu – nxb Thanh Niên 2012)

3. Tâm linh tồn tại khách quan trong đời sống, không phụ thuộc vào nhận thức của con người.

TL là các trường năng lượng trong vũ trụ tác động rất đa dạng tới con người. Khoa học đã tìm được một số trường tương tác này. Họ thừa nhận “ Trường sinh học có thể làm biến đổi tế bào trong tạng phủ con người” và “ Mô hình thân thể con người gồm 7 cơ thể. Cơ thể vật lý bằng xương bằng thịt và 6 cơ thể bằng vật chất mịn gọi là cơ thể tế vi”. Các cơ thể tế vi cần đến năng lượng sinh học được phát huy tác dụng qua “trường” của nó. “Trường sinh học có thể tạo ra các hiệu ứng vật lý, có thể cảm nhận được bằng 5 giác quan thông thường” (Tr 88, sách trên).

Ví như vong hồn là vĩnh hằng, nó đã trải qua hàng vạn kiếp trước và có thể vẫn đồng hành cùng ta tới hàng vạn kiếp sau nữa. Mỗi kiếp chỉ khoảng trăm năm, chớp mắt là qua. Thế nào ta cũng phải thay một thân thể khác như thay áo, đó là qui luật, không ai thoát khỏi luật sinh, lão, bệnh, tử, chỉ trừ khi tự tu luyện đạt tới chứng ngộ, vượt ra ngoài vòng sinh tử, luân hồi.

Vong hồn phiêu diêu trong trời đất rất nhiều, người có khả năng đặc biệt có thể nhìn thấy hoặc giao tiếp với vong. Người chỉ có năm giác quan thông thường khó cảm nhận, nhưng vong vẫn hiện diện quanh ta, tác động nhiều mặt trong cuộc sống hàng ngày, bất chấp nhận thức của ta về vong như thế nào.

4. Quan niệm về mồ mả, phong thủy, tứ trụ

Người xưa có câu: “Nhất mộ, nhì phong, tam tứ trụ’’. Ý nói: Mộ tác động nhiều nhất đến hậu thế, thứ nhì là phong thủy, thứ ba là bốn trụ can chi năm tháng ngày giờ sinh mỗi người. Họ coi mộ là nhà ở của vong hồn tổ tiên, có gien di truyền trong xương cốt, có thể phát sóng tốt hoặc xấu đến hậu thế. Nhiều khi mộ bị xâm hại thì con cháu bị tai họa làm cho nhiều người càng quan tâm hơn tới mộ. Hiện nay nhiều nơi đua nhau xây mộ to cao hơn người xây trước, có nơi tạo ra “thành phố lăng’’ tốn phí nhiều tiền của, công sức. Có gia đình nhà ở còn dột nát nhưng vì nhiều lý do vẫn dốc sức xây lăng mộ.

Việc tìm hài cốt thất lạc, tôn tạo mồ mả là phong tục, là văn hóa của người Việt Nam, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, có ý nghĩa giáo dục hậu thế. Song về TL việc sớm đưa phần xác về với cát bụi, trợ giúp vong hồn siêu thoát thiết thực hơn, được nhiều tôn giáo, dân tộc chú trọng. Có nhiều nghi thức an táng như: Hỏa táng, thủy táng, địa táng, thiên táng (để xác trong hang động, treo xác trên cây)…Ở Tây Tạng xác người chết được đưa lên đàn đá mổ xẻ, xương bị đập nát cho chim kền kền ăn để cầu mong hồn người đó không còn xác trú ngụ, sớm được siêu thoát gọi là điểu táng ( Tr 91 Tây Tạng huyền bí – Rampa – Trung tâm văn hóa nghệ thuật – Viện VHNTVN – 1991). Ở Ấn Độ và nhiều nước hỏa thiêu người chết. Các tôn giáo đều cầu nguyện cho vong hồn được siêu thoát. Đạo Phật có pháp cầu siêu, chuyển cảnh giới cho vong. Chuyển cảnh giới là nương nhờ vào Phật pháp, vào năng lực của người hành pháp mà cầu nguyện để chuyển vong hồn về cõi Thiên (cõi Tây phương đối với nhà Phật, cõi Thiên đường đối với đạo Thiên chúa …). Đó là các cảnh giới (pháp giới) ngoài vòng sinh tử như: Thanh văn (Tiên), Duyên giác (Đại Tiên), La Hán, Kim Cương…. Như vậy khi được chuyển cảnh giới hoặc vong tự siêu thoát thì hậu thế không phải lo mộ động gây xấu. Vì vong hồn không phụ thuộc vào xương cốt và thần linh ở mộ nữa, chỉ về bàn thờ khi thỉnh cầu, được tu học nên có năng lượng cao phù trợ cho con cháu nhiều hơn. Đó là cách báo hiếu cao nhất, báo hiếu cuối cùng, trợ giúp trực tiếp tổ tiên. Đó cũng là nhân quả trực tiếp theo nguyên lý “dương trợ âm phù”.

Phong thủy: Là tổng hòa về môi trường, khí hậu, kiến trúc và bài trí nội ngoại thất, là “trường khí” …tác động đến đời sống con người. Nhất là sinh khí môi trường được làm sạch và nâng cao, kiến trúc hài hòa với tự nhiên thì con người sẽ được thoải mái.

Tứ trụ: Từ can chi năm, tháng, ngày, giờ sinh, người xưa lập thành Tứ trụ, quẻ Dịch đời người, thuật Chiêm tinh, Tử vi…để dự đoán mệnh vận cả đời, mười năm, mỗi năm…Ngoài ra còn có thuật xem tướng: tướng mặt, tướng tay, tướng cốt, thanh tướng…Có người học hỏi để tìm ra quy luật tác động của trời đất với con người, tìm cách ứng xử thích hợp, sống và hành động thuận theo tự nhiên. Nhưng cũng có người do nhận thức hạn hẹp, tin tưởng mê muội vào sách vở, vào thầy dởm…nên tự trói buộc mình, phụ thuộc vào tướng mệnh, thiếu ý chí vươn lên trong cuộc sống.

5. Khái niệm Tâm linh

TL là cuộc sống, là chính sự tồn tại, là cái nhất nguyên của tự nhiên, không phân biệt mình với người khác, vật khác, âm và dương cùng nằm trong thái cực… Có nhiều quan niệm khác nhau về tâm linh tùy theo nhận thức của con người.

Theo OSho, người Ấn Độ đã chứng ngộ từ giữa thế kỷ XX, có ảnh hưởng sâu rộng tới độc giả trên khắp thế giới thì: TL là năng lượng, là linh hồn, là từ bi, là chứng nghiệm, là tự do, là tận hưởng mọi thứ một cách mãnh liệt; TL là chân lý là cái một, cái nhất nguyên của tự nhiên, là tuyệt đối phúc lạc…(Kinh nghiệm thần bí – NXB Tổng hợp TP HCM – 1991). Như vậy dù biết hay không TL vẫn luôn tồn tại trong con người. Như linh hồn là năng lượng tế vi tồn tại ở nhiều dạng cả ở người sống và khi chết, còn lại với vĩnh hằng.

TL tác động khác nhau tới từng đối tượng. Có nhà nghiên cứu nói: “Người làm chính trị tìm thấy ở đây quyền mưu trị quốc, trí giả nhìn thấy ở đây hào quang lung linh của trí tuệ, người kinh doanh tìm thấy ở đây vô số của cải, còn kẻ mê muội nhặt ở đây sợi dây để tự trói mình’’ (Tổng tập văn hóa huyền bí – Vương Ngọc Đức – NXB – VHTT – 1997).

Thực tế nhiều người trở nên ung dung, tự tại, tự do, phúc lạc khi hiểu biết TL. Nhiều người làm ăn phát đạt sau khi hóa giải những vướng mắc về TL. Đồng thời nhiều người bị bế tắc,luôn lo sợ, bỏ lỡ cơ hội trong cuộc sống do bị trói buộc trong những quan niệm, sách vở… mà họ tin là đúng.

II. CÁC CẤP ĐỘ TÂM LINH

Con người khi sinh thành luôn hướng tới chân thiện mỹ, hướng ra bên ngoài để tìm hiểu muôn mặt đời sống xã hội, khám phá thiên nhiên…Nhưng cho đến nay con người tìm hiểu về mình chưa được nhiều,ít hiểu tiềm năng của mình. Họ thích tìm kiếm mọi thứ ở bên ngoài, không biết rằng cái quý giá nhất đã có sẵn trong mình.Đó là Phật tính nguyên thủy trong tâm mà mỗi người cần tìm về. Ở mỗi người nhận thức về TL cũng rất phức tạp: Có lúc tin là có TL, có lúc tin ý chí của mình quyết định tất cả, thậm chí cho là có thể buộc thiên nhiên làm theo ý mình. Họ không tin có vong hồn, không có kiếp trước, kiếp sau, không tin nhân quả nên chỉ làm theo bản năng. Hoặc sau nhiều lần thất bại lại buông xuôi tất cả, phó thác cuộc đời cho số mệnh. Họ không biết mình là ai, từ đâu tới, sẽ đi về đâu. Họ không biết nguyên nhân của những vướng mắc trong cuộc sống, không biết phải tháo gỡ từ đâu và tại sao họ rất cố gắng mà vẫn bế tắc, không có lối thoát. Có người cho rằng muốn tìm hiểu TL phải từ bỏ cuộc sống trần tục, xuất gia đi tu hoặc nghỉ hưu rảnh rỗi mới học TL. Trong thực tế có thể tìm hiểu TL bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu và ở mọi người, mọi lứa tuổi.

Trong nghiên cứu TL từ rất lâu đời, ta được biết nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường, song các con đường đều để giúp người tu luyện hướng tới chứng ngộ bản thể hay đi tới Niết bàn, tự do tối thượng.

1. Đầu tiên là cách tiếp cận sinh lý học Yoga- Mật tông của Osho.

Theo Osho thì TL gồm 7 thể hay 7 cấp độ tương ứng với 7 luân xa hay 7 trung tâm năng lượng, tâm thức nhất định. Mỗi thể đều là cánh cửa đi vào TL, đều dùng để phát triển TL.

Cấp độ một là thể vật lý tương ứng với luân xa 1 ở huyệt hội âm (trước hậu môn khoảng 2 cm) là trung tâm năng lượng nền tảng của con người. Thể vật lý chính là cơ thể vật lý, là phần sinh vật của con người. Luân xa này có hai mặt, hai tiềm năng. Một mặt vận hành tự nhiên theo bản năng là xung dục. Đây là vấn đề đầu tiên cần giải quyết với người tìm kiếm chân lý, TL. Mặt thứ hai là vấn đề trong trắng. Dục là dạng biểu lộ tự nhiên, trong trắng là sự biến chuyển của nó. Trong trắng là năng lượng dục thể 1 kết hợp với thể 2 ête không cần người khác giới. Người chỉ dừng ở trạng thái bản năng tự nhiên chỉ là sinh vật, việc phát triển TL không thể bắt đầu được. Sự vượt lên chỉ có thể có được thông qua thiền.

Dục không có gì là xấu, nó là bậc thang đầu tiên để đi lên cao. Mọi đè nén, kỳ thị, né tránh dục… đều làm tổn hại sức khỏe, tâm lý. Nó là năng lượng sinh tồn của mọi sinh vật trong đó có con người. Sự thiêng liêng của dục được thể hiện đậm nét trong các lễ hội, tín ngưỡng phồn thực và thờ linh vật, trong điêu khắc, hội họa … Việt Nam và trên thế giới. Qua dục con người thể hiện tình yêu thương, văn hóa và tự vượt lên chính mình. Khi vượt qua dục, con người sẽ đi đến siêu tâm thức (cấp độ 5).

Cấp độ thứ hai: Thể xúc động hay thể ê te được nối với luân xa 2 ở huyệt trường cường dưới xương cùng khoảng 2cm. Thể ête chính là bẩy lớp hào quang bao quanh thân thể người và sinh vật đã được chụp ảnh. Nhà ngoại cảm có thể nhìn thấy bệnh tiềm ẩn trong hào quang sáu tháng trước khi bệnh thâm nhập vào cơ thể. Luân xa này cũng có hai tiềm năng. Năng lượng tự nhiên của nó là sợ hãi, căm ghét và tức giận, bạo hành. Chỉ có thiền mới có thể biến đổi năng lượng tự nhiên trên thành mặt đối lập là từ bi, dũng cảm, nhã nhặn, yêu thương vô điều kiện, mới hóa giải được chướng ngại bạo hành.

Tự do bộc phát năng lượng tự nhiên hoặc đè nén nó đều sai lầm và không giải quyết được vấn đề. Hãy có ý thức về năng lượng tự nhiên của luân xa 2. Quan sát tỉnh táo, khách quan sẽ phát hiện ra lòng từ bi và khả năng tha thứ ở sâu trong ta, sự ứng xử với mọi người sẽ có văn hóa hơn .

Cấp độ thứ ba là thể vía tương ứng với luân xa 3 ở huyệt Mệnh môn (ngang thắt lưng). Nó cũng đồng thời có hai khía cạnh. Tiềm năng tự nhiên là trí tuệ, khả năng suy nghĩ và khả năng hoài nghi. Đức tin và niềm tin không là gì khác hơn sự đè nén hoài nghi, do vậy nó cấm đoán sự phát triển của tin cậy. Đừng đè nén hoài nghi, chỉ kết thúc hoài nghi khi suy nghĩ chín muồi, không rơi vào các tín điều, không chấp trước, câu nệ…Thiền định làm biến đổi hoài nghi thành tin cậy và suy nghĩ theo cách thông minh thực sự hay tâm thức tối thượng. Có trí tuệ sáng tỏ sẽ có khả năng phân biệt tinh tường, tự do, sáng tạo.

Cấp độ thứ tư là thể tinh thần hay tâm lý tương ứng với luân xa 4 ở huyệt chí dương ngang vùng tim. Khả năng tự nhiên của luân xa này là tưởng tượng và mơ. Tâm trí của ta tưởng tượng và mơ cả ngày lẫn đêm. Khi tưởng tượng phát triển đầy đủ thì nó trở thành xác định, tự nguyện. Tại cực đỉnh, mơ trở thành linh ảnh TL. Linh ảnh là hiện tượng mà qua đó ta thấy và nghe không cần tới giác quan vật lý của mình. Thời gian và không gian không còn là chướng ngại nữa. Khi đó ta chỉ cần nhắm mắt là nhận ra những điều nào đó, thậm chí còn có thể nhìn qua tường. Ban đầu ta mơ là ta thấy, rồi một hôm ta thấy thực. Chẳng cần phải đoán những điều người ta nghĩ, ta thấy luôn chúng. Trong giấc mơ hay trong suy nghĩ ta có thể đi tới bất kỳ đâu, nhưng hành trình đó chỉ là tưởng tượng. Người có thiên nhãn thì khởi hành đúng. Thân thể vật lý của họ vẫn ở đó nhưng thể tâm lý của họ thì bay đi. Có người mơ thấy nhà mình ở xa bị cháy, việc sau đó được xác định là đúng.

Nghiên cứu khoa học về viễn cảm và quyền năng linh ảnh đã thu được các kết quả có sức thuyết phục đối với các nhà du hành vũ trụ từ nhiều thập kỷ nay, nhất là ở Mỹ và Nga.

Cấp độ thứ năm là thể tâm linh tương ứng với luân xa 5 ở cổ họng (huyệt thiên đột). Tính nhị nguyên đặc trưng cho bốn cấp độ đầu không còn nữa. Ở thể TL không còn tồn tại sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà, không phân chia “nam tính” (tích cực, năng nổ) và “nữ tính” (thụ động, nhu mì), chúng hợp nhất với nhau. Đến cấp độ này, ta thoát khỏi mọi sự vô ý thức. Ta sẽ có ý thức thường xuyên, ngay cả khi ngủ. Còn trước đó, khi ngủ ta hoàn toàn vô ý thức, ban ngày thì một nửa là vô ý thức. Ở thể TL sẽ xuất hiện trạng thái hoàn toàn mới: Phật tính. Phật không phải là một tên riêng, đó là một phẩm chất: minh triết thực sự. Phật là người biết, người tỉnh thức. Đến đây đã có câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?” và đặt cái kết thúc cho việc theo đuổi cái “tôi”. Nhu cầu được là “ông nọ, bà kia” biến mất hoàn toàn. Ta biết sự thật về chủ thể riêng của mình. Hình ảnh bên ngoài không còn quan trọng nữa. Các vấn đề về tranh chấp cá nhân chấm dứt, ta hoàn toàn phúc lạc. Tuy nhiên không nên dừng lại ở trạng thái này, mà cần vươn tới cõi cực lạc cao hơn, hướng tới chân lý.

Cấp độ thứ sáu là thể vũ trụ, trung tâm năng lượng của nó là luân xa 6 “con mắt thứ ba” nằm giữa hai chân mày. Thể này chỉ còn cái “đây” hay “cái tồn tại”, cái đang có, cảm giác về sự tồn tại trong mình. Một số thiền nhân dừng lại khi đạt tới thể vũ trụ. Họ hiểu đó là năng lượng thiêng liêng, là cái tổng thể, là toàn bộ. Chẳng có gì còn lại ngoài sự tồn tại vũ trụ. Sự tồn tại đã được khám phá nhưng cái không tồn tại, cái không có thì chưa được khám phá.

Cấp độ thứ 7 là thể Niết bàn, trung tâm năng lượng của nó ở luân xa 7 và phía trên đỉnh đầu khoảng 10cm. Đó là điều không thể luận bàn được. Tiến hóa của con người đạt tới bậc thang thứ bẩy là bước vào cái chết tuyệt đối, cái không tồn tại, cái hư không. Điều thiêng liêng đã được khám phá hết. Người đã hiểu được sự tồn tại thiêng liêng khẳng định rằng cuộc sống thiêng liêng là sự tồn tại tối hậu. Cả 7 cấp độ, 7 thể và luân xa đặc thù của chúng đều chứa đồng thời tất cả các phương tiện để tiến hóa và tất cả các chướng ngại cho sự tiến hóa. Mọi rào chắn đều ở trong ta nên không có nghĩa gì lắm khi tìm kiếm bên ngoài bản thân. Hãy hòa hợp và hấp thụ những cái ta đã học và hiểu. Hãy chấp nhận, hoàn tất các thể đó nếu có cơ hội đón nhận nhưng chớ có cầu xin, chớ “tin tưởng” vào bất cứ cái gì, nó trói buộc và ngăn cản ta theo đuổi cuộc hành trình bên trong.

2. Thứ hai là cách tiếp cận Mật tông

Mật tông nói về bốn lớp xi, bốn ấn. Để đạt tới điều tối thượng, người ta đi qua bốn cánh cửa, phải mở bốn cái khoá. Bốn cái khoá này được gọi là bốn lớp xi, bốn ấn. Chúng rất quan trọng.

Ấn đầu tiên được gọi là ấn nghiệp. Nó là cánh cửa bên ngoài nhất, chính phần ngoại vi của bản thể bạn, tựa như hành động. Đó là lí do tại sao nó được gọi là ấn nghiệp. Nghiệp có nghĩa là hành động. Hành động là phần ngoại vi của bạn; điều bạn làm là phần ngoại vi của bạn. Bạn yêu ai đó, bạn ghét ai đó, bạn bảo vệ ai đó, cái bạn làm là phần ngoại vi của bạn. Hành động là phần bên ngoài nhất của bản thể bạn.

Lớp xi thứ nhất được mở ra thông qua việc trở thành toàn bộ trong hành động của bạn. Bất kì điều gì bạn làm, làm một cách toàn bộ, và sẽ nảy sinh vui vẻ lớn. Nếu bạn giận dữ, hãy giận dữ toàn bộ; bạn sẽ học rất nhiều từ giận dữ toàn bộ đó. Nếu bạn giận dữ toàn bộ và tràn đầy nhận biết về giận dữ của bạn, một ngày nào đó giận dữ sẽ biến mất. Sẽ không còn vấn đề giận dữ chút nào nữa; bạn đã hiểu nó, nó có thể bị vứt bỏ. Bất kì cái gì được hiểu đều có thể bị vứt bỏ dễ dàng. Chỉ những gì không được hiểu mới tiếp tục lơ lửng quanh bạn. Cho nên hãy là toàn bộ, dù nó là bất kì cái gì. Cố là toàn bộ và tỉnh táo: đây là chiếc khoá đầu tiên cần phải mở. Bao giờ cũng nhớ, Mật tông rất khoa học. Nó không nói phải lẩm nhẩm mật chú. Nó nói: Trở nên nhận biết trong hành động của bạn.

Ấn thứ hai được gọi là ấn hiểu biết, vào sâu bên trong hơn một chút so với lớp xi đầu: tựa như tri thức. Hành động là thứ bên ngoài nhất, tri thức có sâu hơn một chút. Bạn có thể quan sát điều tôi đang làm nhưng bạn không thể quan sát điều tôi đang biết. Hành động có thể được quan sát, biết không thể được quan sát, nó là bên trong hơn. Bây giờ bắt đầu biết điều bạn thực sự biết đi và dừng việc tin vào những thứ bạn thực sự không biết. Nếu bạn là người thật thà chỉ nói và tin điều bạn biết, cái khoá thứ hai sẽ bị phá vỡ. Nếu bạn vẫn cứ biết mọi thứ, tin mọi thứ mà bạn không thực sự biết, cái khoá thứ hai sẽ không bao giờ bị phá vỡ.Tri thức giả là kẻ thù của tri thức thật. Và mọi niềm tin đều là tri thức giả; bạn đơn giản tin chúng.

Mật tông nói: Trước hết hãy biết, rồi niềm tin có đó.Nhưng đó là loại niềm tin hoàn toàn khác; đó là tin cậy. Nhưng điều đầu tiên được rút ra là, vứt bỏ tất cả những gì bạn không biết mà chỉ tin vào những gì bạn đã biết. Bạn bao giờ cũng tin và cũng mang tải trọng. Vứt bỏ tải trọng đi. Trong một trăm thứ bạn sẽ dỡ đi gần như chín mươi tám thứ – dỡ đi. Chỉ vài thứ sẽ còn lại mà bạn thực sự biết. Bạn sẽ cảm thấy tự do lớn lao; đầu bạn sẽ không còn nặng nề nữa. Với tự do cùng phi trọng lượng đó bạn đi vào ấn thứ hai. Cái khoá thứ hai bị phá vỡ.

Ấn thứ ba được gọi là ấn thời gian. Tầng đầu tiên, tầng bên ngoài nhất là

hành động, tầng thứ hai là việc biết, tầng thứ ba là thời gian. Tri thức đã biến mất, bạn chỉ còn trong bây giờ; chỉ sự thuần khiết nhất của thời gian là còn lại. Quan sát, thiền về nó. Trong khoảnh khắc bây giờ, không có tri thức. Tri thức bao giờ cũng là về quá khứ. Trong khoảnh khắc bây giờ không có tri thức, nó hoàn toàn tự do khỏi tri thức. Tri thức là từ quá khứ, hay phóng chiếu vào tương lai. Bây giờ là sự thuần khiết của tri thức.

Thông thường bạn nghĩ rằng quá khứ, hiện tại và tương lai là ba phân chia của thời gian. Đó không phải là cách hiểu của Mật tông. Mật tông nói: chỉ hiện tại mới là thời gian. Quá khứ là kí ức, tương lai là tưởng tượng. Chỉ hiện tại mới là thời gian; quá khứ không hiện hữu, nó đã qua rồi. Tương lai không hiện hữu; nó còn chưa tới. Chỉ hiện tại mới hiện hữu. Hiện hữu trong hiện tại là thực sự trong thời gian. Ngoài ra bạn hoặc là trong kí ức hoặc trong mơ mộng, cả hai đều giả – đều là ảo giác. Cho nên lớp xi thứ ba bị phá vỡ bởi việc hiện hữu trong bây giờ.

Thứ nhất, là toàn bộ trong hành động – lớp xi thứ nhất bị phá vỡ. Thứ hai, thật thà trong việc biết – lớp xi thứ hai bị phá vỡ. Bây giờ, chỉ ở đây và bây giờ – lớp xi thứ ba bị phá vỡ.

Ấn thứ tư được gọi là ấn đại biểu tượng, điệu bộ lớn… bên trong nhất, tựa không gian. Bây giờ chỉ còn lạikhông gian thuần khiết nhất. Hành động, việc biết, thời gian, không gian – đây là bốn lớp xi. Không gian là cốt lõi bên trong nhất của bạn, cái trục của bánh xe, hay trung tâm của cơn xoáy lốc. Trong cái trống rỗng bên trong nhất của bạn là không gian, bầu trời. Đây là ba tầng: tầng thứ nhất là thời gian, rồi tầng thứ hai là việc biết, rồi đến tầng thứ ba là hành động. Đấy là bốn lớp xi cần phải bị phá vỡ. Bằng cách trích dẫn mật chú, điều đó không xảy ra. Công việc lớn được cần tới là đi vào trong thực tại của bạn – về với Phật tính của mình.

3. Cách tiếp cận thứ ba gọi là “nhận biết thứ tư”

Cây cầu từ kí ức sang vô kí ức là “nhận biết một”; nó là việc nhận biết về đối thể. Từ vô kí ức tới vô thuỷ bạn sẽ cần nhận biết thứ hai: đó là cái mà Gurdijieff gọi là “tự nhớ”. Công trình của Krishnamurti hoàn toàn dựa trên “nhận biết một”, công trình của Gurdjieff hoàn toàn dựa trên “nhận biết hai”. Với nhận biết một bạn nhìn vào đối thể, nhìn vào ý nghĩ. Bạn trở nên chú ý tới đối thể. Với “nhận biết hai” bạn trở nên chú ý kép – tới đối thể và cả tới chủ thể nữa. Mũi tên tâm thức của bạn có hai đầu. Một mặt bạn phải trở nên nhận biết về ý nghĩ, và mặt khác bạn phải nhận biết về người suy nghĩ: đối thể, chủ thể – cả hai đều dưới ánh sáng của nhận biết.

Công trình của Gurdjieff đi sâu hơn công trình của Krishnamurti. Ông gọi nó là “tự nhớ”. Một ý nghĩ thoáng qua tâm trí bạn, chẳng hạn một đám mây giận dữ đang chuyển qua. Bạn có thể quan sát đám mây giận dữ mà không quan sát người quan sát, thế thì đấy là “nhận biết một”. Nếu bạn quan sát đám mây và đồng thời bạn liên tục nhớ người đang quan sát – “Tôi đang quan sát” – thì đấy là “nhận biết hai”. Từ kí ức tới vô kí ức, nhận biết một sẽ có ích. Nhưng từ vô kí ức bạn có thể rất dễ dàng rơi trở lại trong kí ức, bởi vì tâm trí chỉ đi ngủ. Với nhận biết thứ nhất bạn đơn giản làm mê tâm trí, bạn đánh thuốc mê cho tâm trí; tâm trí đi vào giấc ngủ. Đấy là việc nghỉ ngơi lớn và là sự bắt đầu tốt, nhưng chưa phải là kết thúc; là cần nhưng không đủ. Với nhận biết thứ hai, tâm trí rơi vào trong vô thuỷ, bây giờ sẽ rất khó khăn để đưa nó lại. Bạn có thể đưa nó lại, nhưng nó sẽ không đến theo cách riêng nó. Không phải là không thể nào đưa nó lại, nhưng điều ấy không dễ dàng. Với Gurdjieff công việc còn đi sâu hơn. Và Mật tông nói rằng còn có “nhận biết thứ ba”. Khi bạn quên mất đối thể, quên mất chủ thể và chỉ còn nhận biết thuần khiết. Bạn không tập trung vào bất kì vật nào – chỉ là nhận biết thuần khiết lơ lửng, không chú ý vào bất kì vật gì, chỉ là sự chú ý, không tập trung, không tụ hội. Với nhận biết thứ nhất bạn còn tập trung vào đối thể. Với nhận biết thứ hai bạn còn tập trung vào đối thể và chủ thể nữa. Với nhận biết thứ ba bạn vứt bỏ mọi sự tập trung, bạn đơn giản tỉnh táo. Nhận biết thứ ba này dẫn bạn tới trạng thái vô trí, trạng thái Niết bàn, đó là “nhận biết thứ tư”. ( Tr 85, 184 – 204 – Chuyển biến Mật tông – OSho).

4. Cách tiếp cận thứ tư là của Đạo gia

Đạo bàn về tính và mạng. Tính là thần. Mạng là tinh với khí. Muốn siêu việt hóa con người chỉ cần thần hòa khí hợp.Tính là một khí linh của khí tiên thiên tàng ẩn nơi tâm ta, đó là thần của ta. Mạng là nguyên khí tượng hình hài của khí hậu thiên nên thần trụ nơi tâm, khí tụ nơi thân. Tính và mạng tuy hai mà một vì thần chẳng lìa khí, tính chẳng lìa mạng, đó là chân tính, chân mạng, là gốc của trời đất. Tu đơn tức là làm cho tính mạng hợp nhất. Nơi thân, tâm có Đạo ở trong. Đạo làm chủ thần, thần làm chủ khí, khí làm chủ hình, hình chủ sự sinh. Nếu ở trong tịnh thì hình trụ, hình trụ thì khí trụ, khí trụ thì thần trụ, thần trụ thì tính trong sáng, tính sáng thì mạng bền. Vậy muốn cho tính mạng hợp nhất thì tính mạng phải song tu tức là luyện tinh hóa khí, khí hóa thần, thần hoàn hư mới đạt đạo quả. Giai đoạn hoàn hư Phật gọi là viên giác, Nho gọi là thái cực, Đạo gọi kim đan ở ngôi vô cực. Tính mạng hợp nhất đạo tiên gọi là luyện đan, đạo Phật gọi là Pháp luân thường chuyển hay Vận chuyển hà xa hoặc vận hành xoay chuyển luân xa, ba pháp cùng đều một lý. Tổ Đạt Ma nói rằng buổi tiên thiên (khí vô cực) đạo Phật, đạo Nho, đạo Tiên vốn cùng một nhà. Người đời lầm lỗi chia ra làm ba mối, mỗi tôn giáo các việc hành đạo đều phân biệt khác nhau chứ cái lý giống nhau có một, phải biết giữ gìn “Tam báu” ở trong mình. Phật gọi là quy y Tam bảo Phật, pháp, tăng. Nho gọi tinh, khí, thần. Đạo gọi cảm ứng, từ bi, trung thứ. Tức tam giáo đồng nguyên – đồng một mạch (Tr 88 – 99 Khí công Y đạo – Đỗ Đức Ngọc – NXB Mỹ thuật – 2010). Đạo gia còn dạy cách bế tinh để chuyển hóa tinh thành khí, khí thành thần. Tu luyện qua 7 cấp độ sẽ đi từ kiểm soát thân xác không cho tinh dịch hao thoát đến vượt qua tình dục đạt được hợp nhất giữa người và Đạo, trường sinh bất lão (Sách Bí quyết bế tinh, Đạo Tạng).

Phương pháp tu bàn đến thực là vô tiền khoáng hậu, dù đi bằng con đường tiệm ngộ (đi dần tới giác ngộ) hay con đường đốn ngộ (tức thân thành Phật) thì tựu chung lại mỗi người phải tự tu, tự chứng, không ai có thể tu thay cho ai. Phải tự đi bằng đôi chân của mình, tự thay đổi nhận thức của mình , không dựa dẫm vào bên ngoài. Có tâm là chưa đủ, phải có tầm và tài, tình… Từ đó sẽ có tâm thức ngày càng cao, giúp cho việc tu luyện đi tới thành công. Cản trở lớn nhất thường gặp là tự kiêu, ngộ nhận khi có đôi chút thành công: Nghe, nhìn hoặc giao tiếp ngoài 5 giác quan, giải được vài vướng mắc… đã cho là mình có khả năng siêu phàm.

III. ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC TÂM LINH TRONG XÃ HỘI.

Do quan niệm về TL không rõ ràng, cho là TL chỉ dành cho người xuất gia, TL đồng nghĩa với mê tín dị đoan… nên việc tìm hiểu về TL bị trôi nổi thăng trầm theo thời cuộc. Con người chịu nhiều áp lực từ các tôn giáo, sách vở: tử vi, tướng số, phong thủy, lịch xem ngày giờ, các thầy dởm, các lý thuyết rác rưởi… Họ bị xô đẩy đến chỗ bế tắc, cùng quẫn, không biết nên đi theo hướng nào. Họ bị những kẻ buôn thần, bán thánh dọa nạt, ép buộc làm những điều không mong muốn, phi lý… và phải chịu những hậu quả nặng nề. Đó là hệ quả tất yếu của việc không được học hỏi khoa học về TL.

Vì vậy việc định hướng giáo dục TL trong xã hội là rất cần thiết. Khi hiểu được TL là khoa học, TL gắn liền với cuộc sống và tồn tại khách quan trong mỗi người thì họ sẽ tìm được cách phát triển TL. Họ sẽ tìm được thời gian và phương pháp học hỏi, nhất là giúp thế hệ trẻ hiểu TL để có cuộc sống tốt đẹp hơn.

TL là chân lý, là chân thiện mỹ, điều đó đồng nhất với ước mong ngàn đời của con người, cơ bản trùng hợp với mục tiêu của Nhà Nước ta. Do đó việc giáo dục TL có thuận lợi rất cơ bản. Nó sẽ phát triển mạnh mẽ và bền vững khi có định hướng của xã hội. Trên thực tế người Việt Nam luôn chú trọng giáo dục TL cho hậu thế. Họ chăm lo cả về thể chất, tâm hồn, đạo lý, trí tuệ… cho con cháu. Từ việc thờ phụng tổ tiên đến ăn, mặc, ở, kết duyên, phòng chữa bệnh… Đều được chỉ dẫn cặn kẽ. Song trên bình diện xã hội thì nhiều hoạt động TL chưa được hướng dẫn.

Tìm hiểu về TL xưa nay vẫn là vấn đề gian nan vì nó liên quan đến phần mịn, phần mờ của vật chất. Nó đòi hỏi người tìm kiếm phải có những phẩm chất cần thiết và nhất là phải có nhận thức tỉnh táo.

TL chính là cuộc sống mà mỗi người đi vào đó bằng con đường khác nhau. Đi được đến đâu trong một kiếp người là việc của từng người. Khi hiểu được làm người là khó, là cơ hội may mắn để tu luyện cho cuộc sống hôm nay hạnh phúc, kiếp sau cực lạc, con người sẽ có niềm tin mãnh liệt để sống tích cực. Họ coi quá khứ là lịch sử, tương lai còn bí ẩn, hiện tại là quà tặng. Họ khép lại quá khứ khổ đau, không ảo vọng ở tương lai mà vui sướng trong hiện tại, ở đây, ngay lúc này, theo quan niệm:

Tâm không vướng bận ưu phiền

Là tâm an lạc, là Tiên cõi trần

Nguyễn Tân Khoa – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Ứng dụng Phật học Việt Nam

Không có nhận xét nào: