Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

LÀNG CỔ TRUNG KIÊN

Làng Trung Kiên hay còn gọi là làng Hoàng Lao, xưa nữa là làng Kẻ Lau (1) là một trong 3 làng cổ của xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Nghi Thiết là một xã bán đảo diện tích không rộng chỉ 6,06 km²; dân số năm 2013 là 6.288 người, mật độ 873 người/km². Nghề chính của làng đóng thuyền, làm mộc gia dụng và đánh bắt hải sản. Làng nằm ở bờ Bắc tả ngạn sông Cấm; trước mặt là sông, sau là cánh đồng lúa; phía Bắc sau cánh đồng lúa là biển cả. Cả làng duy nhất có đường bộ nối liền qua xã Nghi Tiến, qua cầu Cấm, quốc lộ 1A.
1. Năm 1696 đời vua Lê Dụ Tông niên hiệu Chính Hoàng thứ 17 làng vẫn là xã Hoàng Lao thuộc huyện Hưng Nguyên phủ Anh Đô. Đến triều Lê Trung Hưng có lẽ nhờ vào lòng dũng cảm kiên cường trong chống giặc và công lao to lớn của làng nên được đổi tên là làng Trung Kiên. Sau 1945 làng nằm trong xã Đông Hải và đến năm 1959 thành lập hợp tác xã của làng và lấy tên là hợp tác xã đóng tàu thuyền Trung Kiên. 

Bản đồ huyện Nghi Lộc - nguồn: Internet

Xã Nghi Thiết giáp xã Nghi Yên từ núi Mộ Dạ, đền thờ Thục An Dương Vương đi qua các triền núi bờ biển Nghi Lộc khoảng 7 km qua núi Lữ, núi Khăn, núi Dẻ, Núi Đụn, núi Cánh Phượng, núi Trọc cuối cùng là núi Đầu Rồng. Phía trong đầu làng Trung Kiên còn có núi Chùa. Tất cả các ngọn núi này có điều lạ là đều quay đầu ra biển. Đầu Rồng là ngọn núi cuối cùng ở đầu cửa sông Cấm. Bờ Nam cửa sông Cấm chính là Cảng Cửa Lò. Ở phía ngoài có một bãi cồn cạn gọi là Cồn Khả nằm án ngự che chắn làng. Từ đời Lý, đời Trần nơi đây là căn cứ thủy chiến lợi hại bậc nhất của cả nước có tên là Cửa Xá (Cửa Thả).

Khi Thục An Dương Vương thua trận, bước cùng trận mạc, nhà vua đã tuẫn tiết ở núi Mộ Dã. Những người dân lưu cư cùng với dòng người chiến trận lần theo các sườn núi dọc biển, đi hết đường cùng, họ quay lại cư trú tại eo núi Cánh Phượng. Ở đây cây cối um tùm được bao bọc bởi 3 dãy núi hình vòng cung, phía ngoài cùng là biển dập dờn sóng vỗ với những bãi đá, bãi cát tự nhiên vô cùng đẹp. Một địa thế kín đáo cho việc nương lánh, mai danh ẩn tích và cũng là một vùng rất thuận lợi cho mưu sinh. Họ đã khai phá cải tạo thung lũng này thành một cánh đồng màu mỡ tuy không rộng lớn nhưng vẫn đủ cho họ sinh sống với nghề trồng lúa và đánh bắt hải sản. Năm tháng trôi qua, dòng người thiên lý về đây ngày một đông và hình thành nên một cộng đồng dân cư đông đúc. Làng được khai sinh có tên là làng Đông Vang.


Bãi Hoang - một trong những bãi biển đẹp và hoang sơ nhất của Làng Trung Kiên - ảnh Hoàng Lạc

Theo thời gian, dân cư ngày một đông hơn. Phạm vi thung lũng trên không còn đủ mưu sinh. Họ chuyển sang phía bên kia núi Cánh Phượng, tiếp tục khai phá thung lũng lớn hơn. Sự lao động cật lực của cộng đồng cư dân thung lũng này tạo nên một cánh đồng lúa nước màu mỡ và cư dân nơi đây lập nên làng mới - làng Đông Ngàn và cánh đồng lúa nước Đông Ngàn. Cánh đồng nằm bên cồn Lau Sậy.

Chưa thỏa mãn với vùng đất mới, họ lại tiếp tục sang cồn Lau Sậy khai phá, lập thêm một vùng đất rộng lớn và trù phú hơn rất nhiều trên bờ sông Cấm và làng mới nữa được hình thành - làng Kẻ Lau. Đây là một vùng đất trên bến dưới thuyền giao lưu thuận lợi và sầm uất nhất.

Chùa Phổ Nghiêm nay đã qua trùng tu - ảnh Hoàng Lạc

Đình thờ Thành Hoàng làng Trung Kiên - ảnh Hoàng Lạc

Vào thời Lý, thời Trần, vùng đất này trở thành một căn cứ quân sự để triều đình chống giặc phương Bắc. Nơi đây từng là kho tàng căn cứ để tập trung quân, vũ khí và lương thực. Ngày nay ở đây còn có núi mang tên là Làng Kho. Tiếp đến vua Trần Nhân Tông thế kỷ thứ 13 (1279 -1293) chủ trương chiêu mộ dân về đây đóng tàu chiến, tiếp ứng quân lương và vũ khí phục vụ chiến trường. Sau chiến thắng giặc Nguyên lần thứ 3, đất nước thanh bình. Với chiến công hiển hách, có sự đóng góp không nhỏ của cư dân vùng này. Vua Trần ban sắc phong công trạng cho ba làng Đông Vang, Đông Ngạn và Kẻ Lau (Trung Kiên). 

Làng Trung Kiên có 2 ngọn núi chắn: đầu làng là núi Mái Chùa phía trong và Núi đầu Rồng phía biển. Núi Mái Chùa có hình bốn mái. Thiên nhiên đã tạo sinh nơi đây 1 tượng đá tự nhiên có hình người phụ nữ đang ngồi tụng kinh niệm phật, một tay vòng ngang bụng, một tay đặt nghiêng các đầu ngón dưới cằm. Người xưa đã lập chùa thờ. Đó là tượng phật Bà Quan Âm còn tồn tại cho đến bây giờ. Tượng và Văn bia Chùa được xếp hạng là báu vật di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Núi Đầu Rồng là một ngọn núi uốn cong, đầu nằm ngoài biển canh giữ sóng to, gió lớn và bảo vệ làng. Đầu núi là hình đầu rồng, ở đây có giếng nước ngọt quanh năm không bao giờ cạn, nước trong tinh khiết (đã được xét nghiệm nước có chất lượng tốt). Tương truyền rằng, vào một buổi trưa hè trên trời có một đám mây trắng phau bay là xuống phía giếng một hồi rồi biến mất, nên người xưa cho đây là nơi tắm mát của các nàng tiên và đặt tên là giếng Thủy Tiên. Làng còn có cụm di tích đình, đền, chùa (2).
2. Làng Trung Kiên có cụm di tích đình, đền, chùa (5 ngôi) tất cả đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo quyết định số 1266 ngày 22 tháng 9 năm 1992 của Bộ Văn hoá Thông tin:
- Đền thờ Tứ vị Thánh nương
- Đình làng Hoàng Lao: Thờ Thành Hoàng
- Chùa Phổ Nghiêm: có từ trước năm 1657 thờ Đức Phật thích ca Mâu ni và Quan Thế Âm Bồ Tát là một ngôi chùa cổ kiểu 8 mái, được trùng tu vào triều Tự Bích năm Giáp Dần. 
Ngôi chùa có 2 báu vật:
- 1 tượng đá Thiên tạo (đã nói ở trên)
- Văn bia 4 mặt có nhiều nội dung khá phong phú trong đó có mặt phía Tây nói về quan Hậu thần.
Quần thể di tích bao gồm cả 5 ngôi đã được xếp hạng là di tích cấp quốc gia làng Trung Kiên nói riêng và cả 3 làng cổ nói chung. 

Quần thể di tích lịch sử làng Trung Kiên còn có Đền cửa biển thờ Thần Hoàng Tá Thốn (vị tướng nhà Trần) và 1 giếng nước làng thời xa xưa, nước luôn mát trong lành. Làng có câu ca:

“Nước giếng Chùa vừa trong vừa mát
Đường Kẻ Lau đất cát dễ đi
Em về yên chốn Thẩm Khuê
Trai anh đi làm thợ
Gái nữ nhi em tơ tằm”.

Làng từng là một phong cảnh trữ tình, một cảnh quan huyền diệu với cây đa, giếng nước đầu đình cùng giọng hò bên sông... Một thời kì dài (1945 - 1975) do bom đạn chiến tranh cày đi, xới lại, nguyên mẫu làng cổ không còn như xưa. Những năm đầu hoà bình xây dựng, chúng ta thiếu quan tâm bảo vệ, giữ gìn, phục hồi, mà còn phá hỏng các di chỉ văn hoá của Làng. Tên làng Trung Kiên giờ cũng không còn lưu dấu trong danh bạ của Nhà nước.

Bia đá của Làng Trung Kiên - ảnh Hoàng Lạc

Thiên nhiên đã ban tặng bờ biển xã Nghi Thiết (nói riêng Làng Trung Kiên) có 8 đầu núi nhô ra biển, xen kẽ là những bãi cát trắng mịn thoai thoải với những hàng phi lao xanh mát, những bãi tắm yên bình, trong lành được bảo vệ bởi núi bao quanh chắn sóng, sẽ làm du khách tắm biển an tâm. Dải bờ biển dài 3km có nhiều đặc sản quý như mực, tôm, cua, nghêu, sò, trai, ốc và loại hải sâm,… Mặc dù chưa được Nhà nước đầu tư khai thác, nhưng từ lâu đã có nhiều du khách đến tắm biển, tham quan và thu mua các loại đặc sản nói trên. 

Sông Cấm địa phận làng Trung Kiên - ảnh Hoàng Lạc
Giếng nước làng Trung Kiên - ảnh Hoàng Lạc
Đền Cửa thờ Thần Hoàng Tá Thốn - ảnh Hoàng Lạc
Đền thờ quan Hậu thần - ảnh Hoàng Lạc

Làng Trung Kiên đã, đang và sẽ là địa điểm kho tàng lưu trữ, chuyển giao, phục vụ chiến trường khi có giặc ngoại xâm; là địa điểm nghỉ dưỡng và tham quan du lịch về văn hoá trong tương lai nếu biết quy hoạch và xây dựng. Làng xã Việt là các tế bào hình thành nên đất nước Việt. Văn hoá làng xã là những đóng góp quan trọng vào lịch sử phát triển của đất nước nếu chúng ta biết trân trọng nâng niu, gìn giữ, phục hồi và bồi đắp nó.

Trung Kiên, ngày 11 tháng 7 năm 2015 - ngày về quê nội
Chỉnh sửa ngày 25 tháng 7 năm 2016 - ngày về lần hai
Hoàng Lạc
Nguồn: http://hoangvanlac31.blogspot.com/

Không có nhận xét nào: