Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017

TÌM HIỂU VỀ NGÃ

Ngã 
Ngã (我, sa. ātman, pi. attā) tức là cái "ta" được thiết thuyết với một thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán, sinh tử. Đạo Phật không công nhận sự hiện diện của một ngã như thế. Trong toàn bộ mọi hiện tượng tâm lí và vật lí không có một chủ thể gì được gọi là độc lập, thường còn (Vô ngã, Ngũ uẩn).
Theo đạo Phật, ý nghĩ cho rằng có "ta", có "người" - những đơn vị độc lập không phụ thuộc vào nhau - chính là Vô minh, si mê. Sự nhận thức là có "ta" tự khởi lên bởi vì con người thường bị tri thức mê hoặc - tri thức ở đây là thức thứ sáu, khả năng suy nghĩ phân biệt - cho rằng thế giới nhị nguyên vốn có sẵn và từ đó phát sinh ra sự suy nghĩ và hành động theo quan niệm rằng, "ta" và người, vật bên ngoài hoàn toàn là những đơn vị độc lập. Dần dần, ý nghĩ "ta" khắc sâu vào tâm và những ý nghĩ khác như "ta yêu cái này, ta ghét cái nọ; cái này của ta, cái này của ngươi" bắt đầu nảy nở. Những ý nghĩ nêu trên lại có ảnh hưởng trở lại với ý nghĩ "ta" và, vì vậy, cái "ta" này cai trị tâm linh của con người. Nó sẵn sàng tấn công tất cả những gì mà nó cảm thấy bị đe dọa, thèm khát những gì giúp nó gia tăng quyền lực. Thù hận, tham khát và xa rời chân tính là những tai hại phát sinh từ đó và chúng trực tiếp đưa con người đến bể Khổ.
Trong Thiền tông, người ta sử dụng phương pháp Tọa thiền (ja. zazen) để phá vỡ cái vòng lẩn quẩn nêu trên. Trong quá trình tu tập dưới sự hướng dẫn của một vị Thiền sư, Lão sư (ja. rōshi), người ta có thể dần dần vượt khỏi sự khống chế của cái "Ngã", tiêu diệt "Ngã" hay, đúng hơn, vượt khỏi cái "ý nghĩ sai lầm là có tự ngã" bởi vì, nhìn theo khía cạnh tuyệt đối thì người ta không thể tiêu diệt một cái gì không có thật, chưa hề có thật như cái "Ngã".
Tham khảo
Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ Điển. Phật Quang Đại Từ Điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
______________________

Chữ Ngã trong Phật Giáo có các nghĩa gì?
Có hai nghĩa chính về Ngã:
1. Cái Ngã siêu hình (the metaphysical Self): gọi là siêu hình là vì không kiểm nghiệm được, cho nên những gì đã được luận bàn về cái Ngã này thường chỉ là những speculation. 
Cái Ngã này được định nghĩa là một thực thể bất biến, thường còn, vĩnh cửu (an unchanging, permanent, eternal entity).
Thời Phật Thích Ca còn tại thế, có hai giả thuyết chính về cái Ngã này, một là Atman của Bà La Môn Giáo (Brahmanism) và một là Jiva của Kỳ Na Giáo (Jainism).
Theo Bà La Môn Giáo thì ẩn tàng bên dưới của tất cả sự sự vật vật có một Nguyên Lý Tuyệt Đối Chung (Absolute Principle) gọi là Brahman (Đại Ngã). Brahman có thể được hiểu trong nghĩa Thượng Đế, nhưng là một Thượng Đế Không Nhân Cách Hóa (Impersonal God) chứ không phải như Thượng Đế của Ki Tô Giáo là một Thượng Đế Tạo Hóa được Nhân Cách Hóa (Personified Creator-God). Như vậy thì, theo Bà La Môn Giáo, trong mỗi con người chúng ta cũng phải có nguyên lý này, được gọi là Atman (Tiểu Ngã, Self). Và như vậy thì sự Giải Thoát theo Bà La Môn Giáo là sự "trở về" hay "hợp nhất" của Atman trong ta với Brahman chung. Đó là công thức Atman = Brahman (tức là Bất Nhị / Advaita / Not-Two / Non-Duality / Không Hai).
Theo Kỳ Na Giáo thì bên trong mỗi sinh vật hữu tình (Trời, người hay thú) hay vật vô tình (cây cỏ, gỗ đá) có một Nguyên Lý Sống (Life Principle) gọi là Jiva. Jiva là một nguyên lý tinh thần bị giam hãm trong phần vật chất. Thí dụ như trong con người thì Jiva là phần tinh thần bị giam hãm trong phần vật chất là thân thể (body) của chúng ta đây. Giải Thoát là khi Jiva thoát khỏi được sự giam hãm của phần vật chất và hưởng sự tự do tuyệt đối vĩnh cửu.
Jiva khác với Atman ở điểm là: mỗi người có một Atman, nhưng tất cả các Atman này đều "đồng nhất" với một Brahman, nên có thể coi tất cả các Atman đều là MỘT, còn trong trường hợp của Jiva thì mỗi người có một Jiva "riêng rẽ" và khi giải thoát thì mỗi Jiva đều enjoy một cái tự do riêng, không phải là "trở về" hay "hợp nhất" với Brahman (tức Thượng Đế ) như trường hợp Atman.
Những tôn giáo xuất hiện về sau này như Ki Tô Giáo và Hồi Giáo có nói về một cái Linh Hồn bất tử (Immortal Soul) thì cái Linh Hồn này cũng là một định nghĩa khác của cái Ngã siêu hình nói ở bên trên.
2. Cái Ngã thể nghiệm (the empirical Self): gọi là thể nghiệm là vì mỗi người chúng ta đều kinh nghiệm được cái Ngã này. Đó là cái cảm giác TA, TÔI, của TA, của TÔI (the feeling of I, me, mine, myself). Cái cảm giác TA, TÔI này luôn luôn bàng bạc trong ta. Nó có thể rất mờ nhạt những khi không có chuyện gì xảy ra với ta, nhưng nó cũng rất rõ ràng thí dụ như những khi ta nổi giận vì bị sỉ nhục, vui mừng vì được khen ngợi, sợ hãi khi thân thể hay quyền lợi, tài sản của ta bị đe dọa, nó cũng hẫy hừng những lúc ta có dục vọng muốn chiếm đoạt hay tranh đua với người khác. Nói tóm tắt là lúc nào trong ta cũng bàng bạc cái cảm giác TA, TÔI này.
Không có ai định nghĩa cái Ngã này rõ ràng hơn Descartes với câu nổi tiếng sau:
COGITO ERGO SUM
Je pense, donc je suis.
I think, therefore I am.
Tôi suy nghĩ, tức là tôi hiện hữu.
Tức là ngay khi ta suy nghĩ thì liền đó đã có một cái "identification" với một cái chủ thể vô hình là TA, TÔI!
Theo Phật giáo (PG) thì PG PHỦ ĐỊNH CẢ HAI CÁI NGÃ TRÊN!
Đây chính là lý thuyết VÔ NGÃ, một lý thuyết nền tảng và cũng rất đặc biệt riêng của PG.
Cái Ngã số 1 thì PG bảo rằng nó không hề có, chỉ là một cái speculation. Cho nên ta không cần để ý gì tới nó làm gì cho mất công, vì nó không hề có.
Cái Ngã số 2 chính là cái Ngã mà PG "tấn công". PG bảo rằng cái cảm giác TA, TÔI đó chính là cái mê lầm căn bản của chúng sinh. Chính cái TA, TÔI đó là gốc của mọi hành vi ích kỷ, selfish, self-centered, khiến cho có sự phân biệt, chia rẽ người với người. Từ đó mới có tranh chấp, xung đột, chiến tranh.
Cái TA, TÔI đó chính là nguồn gốc của KHỔ: tự làm khổ mình và làm khổ mọi người khác. Tu theo PG là tu để thoát KHỔ và cứu cánh sự tu tập theo PG chính là để phá cái Ngã này, được gọi là phá NGÃ CHẤP tức là phá cái mê lầm căn bản vậy.
(Laughinghaha (KKT) - Nguồn: http://ablue.blogtiengviet.net/)
____________________________________

ĐẶC TÍNH CỦA NGÃ
Trong sự chấp ngã, bám víu vào “cái ta” và “của ta” rồi dẫn đến chiếm hữu, sự bám víu vào cái thân vật chất này ai cũng coi trọng nó, kẻ nào chạm đến sẽ bị phản kháng dữ dội. “Cái ta” ban đầu chỉ là sự bất giác của một vọng niệm được khởi lên và dính mắc vào đó, đến khi thành hình rồi nó cần một nền tảng vật chất để dựa vào đó mà hiện hữu. Nền tảng đó chính là sự hiện hữu và tồn tại cái thân này.
Chúng ta bám víu vào thân và cho đó là ta, là của ta rồi nâng niu, chăm sóc, bảo vệ cho nó. Đây gọi là “thân kiến”. Khi ăn thì tìm món ngon vật lạ, khi uống thì tìm những thứ ngon ngọt… Cũng từ sự ăn uống mà ngày nay trên thế giới sinh ra rất nhiều căn bệnh, dù khoa học có tiến bộ tới đâu cũng không thể nào theo kịp sự phát sinh và biến dạng của bệnh tật.
Chúng ta mặc thì kiếm quần áo tốt đẹp có thương hiệu nổi tiếng, ở thì phải xây nhà cao cửa rộng nguy nga tráng lệ có đẳng cấp sang trọng, xe thì phải mua loại mắt tiền có giá trị từ bạc tỉ trở lên, đồ dùng thì phải mua sắm đủ thứ tiện nghi hiện đại trang hoàng lộng lẫy đẹp mắt để ngắm và mong nhiều người khác khen tặng. Vợ chồng nói thương yêu nhau chung thủy nhưng thật ra ai cũng thương thân mình là trước hết.

Cái tôi trong mỗi người – Ảnh minh họa

“Cái ta” ảo tưởng không thật có này là trạng thái mê mờ không thấy rõ những gì đang xảy ra trong từng phút giây. Đức Phật dạy: “Do ta không có sự trải nghiệm trong tu chứng nên lầm chấp thân này là ta, là của ta. Khi “cái ta” ảo tưởng có mặt thì cái “của ta” cũng theo đó mà phát sinh rồi luyến ái chấp giữ, muốn cái gì cũng là của riêng mình. Ai xâm phạm đến ta sẽ kháng cự mãnh liệt, như chúng ta đem lòng thương yêu một ai đó và muốn người ấy thuộc về mình mãi mãi.
Những gì tốt đẹp dễ có lợi cho mình thì ta thu thập, tích lũy, chiếm hữu, duy trì cho được bằng mọi cách. Cái gì không ưa thích thì tìm cách loại bỏ, khử trừ, xa lánh, hủy diệt. Như chúng tôi viết ra một tác phẩm được nhiều người ngưỡng mộ, ca ngợi thì cảm thấy hãnh diện, tự hào vì mình làm được điều khó làm. Còn khi chúng tôi bị ai đó xem thường, sỉ nhục, nói rằng “sách của thầy dở quá” thì “cái ta” biểu hiện mạnh mẽ để kháng cự, phẫn nộ và tìm cách muốn loại trừ đối tượng đó ngay.
“Cái ta” nếu được phát triển theo chiều hướng tốt đẹp làm lợi ích cho nhiều người thì còn có chỗ đóng góp, ngược lại nếu được mở rộng theo chiều tiêu cực thì tệ nạn xã hội tràn lan gây thiệt hại cho nhân loại. Thực tế, nếu chúng ta có tu học một chút thì sẽ thấy rõ thân tâm đều vô thường và hoàn cảnh hiện tại chẳng có gì là ta và của ta.
Tất cả mọi hiện tượng sự vật đều phải nương vào nhau để phát triển và tồn tại theo nguyên lý duyên khởi, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không, cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt. Chẳng có cái gì tồn tại độc lập để sinh ra vạn vật vì bản chất của chúng vốn duyên sinh, vô ngã.
Chính bản thân mình còn không thể gìn giữ được, vẫn phải tuân thủ theo tiến trình thay đổi của sinh-già-bệnh-chết, huống gì những tiện nghi vật chất bên ngoài làm sao chúng ta có thể nắm giữ được lâu dài. Cấu trúc của con người gồm có sắc thân, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức. Năm yếu tố này luôn luôn thay đổi trong từng giây từng phút, không thực sự tồn tại lâu dài và chỉ có ta mê lầm mới muốn nắm bắt và chấp giữ nên tạo ra sự khổ đau.
Theo quan niệm của những người bình thường, chúng ta sống ở thế gian này để tìm kiếm sự ăn uống và hưởng thụ vui chơi. Mật ngọt thế gian có rất nhiều thứ, đủ mọi hình thức để cám dỗ chúng ta như sự giàu có, tiếng tăm, quyền lực, tình yêu, gia đình, ăn ngon, mặc đẹp, ngủ nhiều, nhà cao cửa rộng… Nhưng đến khi ra đi ta phải bỏ lại hết với sự tiếc nuối vì chẳng đem theo được thứ gì.
Trong suốt một chặng đường dài để tìm kiếm và hưởng thụ ấy, chúng ta có thể gây ra khó khăn và những khổ đau cho người khác. Khi đã có sự tranh giành, bám giữ, hưởng thụ thì lẽ đương nhiên là phải gây tổn thương cho con người và vạn vật.
Ngược lại với thái độ trên là yếu hèn, biếng nhác, chẳng muốn làm gì cả, chẳng muốn phát triển, mở mang và đóng góp. Như con ong chỉ muốn ở trong tổ của mình, không hút nhụy hoa để làm ra mật để cho các hoa được thụ phấn mà làm ra một mùa trái ngọt.
Dân gian có câu: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống.” Chúng ta sống để làm gì? Sống làm sao để cho mình và người khác được hạnh phúc thật sự?
Như ong hút mật rồi bay đi
Không làm hại đến hương sắc hoa
Người có hiểu biết chân chính
Luôn vị tha làm lợi ích cho đời.
Với người không có hiểu biết chân chính họ sống là để tham lam, giành giựt, chiếm đoạt để có được nhiều hơn, bất kể mọi người khổ đau như thế nào họ không cần biết. Họ chỉ biết rằng họ được ăn trên ngồi trước và nắm quyền sinh sát trong tay. Họ cho rằng đó là ân sủng thượng đế đã dành cho họ. Cuộc sống của họ luôn tạo ra nỗi khổ niềm đau cho mọi người vì quan niệm sai lầm có một thần linh, thượng đế ban phước giáng họa và sắp đặt mọi việc.
Nắm lấy, kéo về mình, cất giữ, chất chứa là một thói quen xấu do ngu si chấp ngã thấy mình là trung tâm của vũ trụ. Loài người ngay từ nhỏ khi mới chập chững biết bò đã cố trườn tới để nắm lấy một đồ vật trước mặt, nếu nắm lấy được thì bỏ vào miệng không phân biệt dơ sạch. Lớn lên, chúng ta nắm bắt và càng chất chứa nhiều hơn nhờ biết phân biệt.
Cuộc sống bình thường của mọi người là vì “cái ta” và “cái của ta”. Và ai cũng biết, sự mở rộng của “cái ta” này rất giới hạn. Ngay cả một quốc gia cũng bị giới hạn trong biên giới lãnh thổ của mình. Hai quốc gia cùng muốn nắm lấy một miếng đất nào đó thì họ cố chấp, tranh giành để chiếm đoạt, không ai chịu nhường cho ai thì chiến tranh sẽ xảy ra.
Nắm lấy, chất chứa là một thói quen từ sự chấp ngã của một con người. Cũng chính sự nắm lấy này khiến con người bị trói buộc về mặt tâm thức vào đối tượng mình chiếm hữu. Càng nắm giữ và chất chứa nhiều thì sự lệ thuộc, dính mắc, bám víu càng nhiều. “Cái ta” càng được củng cố thì phiền não càng nhiều, sự thất vọng càng nhiều và tổn thương càng nhiều.
Chúng ta cũng cần phải hiểu rõ việc không nắm giữ không có nghĩa là không có gì hết, không có cả một cái chén để ăn cơm. Chúng ta vẫn cầm cái ly để uống nước nhưng chúng ta không dính mắc vào nó, khi lỡ làm bể cái ly chúng ta không tiếc rẻ, bực tức hay nổi giận.
Với người có hiểu biết chân chính họ đến để học thay vì cai trị, đến để cho, để cống hiến, để làm vun bồi thay vì tham lam chiếm đoạt. Họ đến để làm đẹp cho cuộc đời mà không làm tổn hại cho ai, như con ong hút tinh chất của hoa để làm ra mật mà không làm hư hoại đóa hoa.
Như chúng ta đã biết, ai rồi cũng phải già, bệnh và chết, khi đói bụng thì phải ăn, khi khát nước cần phải uống, ăn uống rồi thì phải xả ra. Chúng ta sẽ thấy rõ bản chất của “cái ta” ảo tưởng sinh diệt này bằng cách chỉ cần quan sát sự sinh diệt của ý niệm đến rồi đi. Chúng ta không cần xua đuổi, khử trừ, không cần bám víu, nắm giữ.
Con người vì si mê lầm chấp, không thấy đúng lẽ thật nên luyến ái thân mạng; chấp thân tứ đại giả hợp cho là ta, là của ta, con ta, tài sản ta, gia đình ta, đất nước ta và ta là trung tâm của vũ trụ nên từ đó có học thuyết ông trời ra đời để ban phước giáng hoạ.
Chúng ta vì thấy thân này là thật nên lúc nào cũng muốn được ăn ngon mặc đẹp, ra sức sắm sửa nhà cao cửa rộng, tài sản tiện nghi, vật chất đầy đủ, xe cộ, tiền của, tôi tớ phục dịch để chứng tỏ đẳng cấp giàu sang. Muốn có được đời sống vật chất đầy đủ như thế chúng ta phải làm việc nhọc nhằn vất vả, phải tính toán công ăn việc làm để tích lũy tiền bạc, của cải vật chất cho nhiều.
Sự tham muốn đó không phải chỉ riêng một ai mà tất cả chúng ta ai cũng muốn được lợi phần mình nên tranh đua, giành giật để được phần hơn. Không ai chịu thua ai mà lúc nào cũng muốn chiếm ưu thế về mình. Đã đi vào trường đời thì phải tranh đua, giành giật nên có kẻ được người mất, kẻ thắng người thua, kẻ thành người bại. Người được thì vui trên sự đau khổ của kẻ khác còn người mất thì đau khổ vô cùng.
Bám víu vào cái thân này cho là ta nhưng có bao giờ cái thân này sống hoài đâu, giỏi lắm chừng 80 năm cuộc đời. Trước sau gì nó cũng phải tan rã vì ai cũng phải già-bệnh-chết. Vậy sau khi chết ta sẽ đi về đâu? Vì không hiểu thấu luật nhân quả nên đa số đều cho rằng chết là hết, hoặc chết rồi linh hồn sẽ còn mãi mãi. Đây gọi là “biên kiến”, tức là cái thấy nghiêng lệch một bên, không đúng với sự thật.
TRONG PHẬT GIÁO, CÓ KHI NÓI CÁI NGÃ KHÔNG THẬT, ĐÔI KHI LẠI CÒN ĐỀ CAO CÁI NGÃ CHO LÀ ĐỘC TÔN, DUY NHẤT NỮA. NHƯ CÓ MỘT TRUYỀN THUYẾT NÓI: “TRÊN TRỜI DƯỚI ĐẤT CHỈ TA HƠN HẾT, TẤT CẢ THẾ GIAN SINH-GIÀ-BỆNH-CHẾT”. TẠI SAO CŨNG ĐỒNG LÀ NGÃ MÀ KHI THÌ NÓI CÁI NGÃ KHÔNG THẬT, KHI LẠI NÓI CÁI NGÃ LÀ THẬT? NHƯ VẬY, KINH PHẬT CÓ MÂU THUẪN VÀ CHỐNG TRÁI NHAU KHÔNG?
Đạo Phật ra đời là tùy bệnh cho thuốc nên không có gì chống trái với nhau cả. Chữ “ngã” là đọc âm hán tự, có nghĩa là tôi, ta hay mình… Để chúng ta hiểu rõ hơn về chữ ngã, phàm nói ngã phải hội đủ ba yếu tố: Chủ thể, thường nhất và tự tại. Cái ngã mà Phật giáo phủ nhận hay chủ trương vô ngã là để chỉ rõ cái ngã do nhân duyên hòa hợp mà hình thành. Đã do nhân duyên hòa hợp nên nó không có chủ tể cố định, không thường nhất và không được tự tại.
Như cái thân xác mà chúng ta đang mang đây, nhà Phật gọi là cái thân vô thường, giả tạm bởi do năm uẩn kết hợp mà thành. Năm uẩn đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. “Sắc” chất tức là thân này, thuộc về phần tứ đại, tức gồm có 4 nguyên tố tụ hợp tạo thành như đất-nước-gió-lửa. Bốn thứ nầy được kết hợp trong điều kiện nhân duyên cưỡng ép, chính vì vậy mà chúng thường chống trái nhau rồi dẫn đến già-bệnh-chết.
Đây là phần kết hợp của thân vật chất, còn về phần tinh thần hiểu biết cũng do bốn thứ kết hợp là thọ, tưởng, hành, thức. “Thọ” là sự cảm nhận vui hay khổ, hoặc không vui không khổ. “Tưởng” là nhớ lại những việc đã qua hay tưởng tượng đến những việc sắp đến. “Hành” là sự suy nghĩ biến đổi từng sát na của dòng tâm thức. “Thức” là sự phân biệt đúng sai, phải quấy, tốt xấu, hơn thua… Bốn thứ nầy cấu tạo thành hiện trạng tâm lý, tinh thần của một con người. 
Như vậy, mỗi thân thể chúng ta được cấu tạo bởi hai phần: Vật chất và tinh thần. Đã nói là sự hình thành của thân này phải do nhiều thứ hợp lại nên tất nhiên có hợp phải có tan. Chính vì vậy, Phật nói thân này vô ngã, có nghĩa là không thật có, có mà không thật.
Nói đến “cái ta” là chỉ cho chủ thể mạng sống, nhưng mạng sống có hai là giả tạm và thường còn. Mạng sống giả tạm là mạng sống còn bị lệ thuộc bởi nguyên lý duyên sinh nhân quả. Mạng sống thường còn thì vượt ngoài nhân duyên đối đãi. Mạng sống thường còn Phật dạy có nhiều tên gọi khác nhau như Chơn ngã, Pháp thân, Phật tánh, Niết bàn, Bản lai diện mục, Chơn lý tuyệt đối…
Câu nói: “Trên trời dưới đất, chỉ ta hơn hết, tất cả thế gian, sinh-già-bệnh-chết”. Chữ ngã này là chỉ cho Chơn ngã, tức Phật pháp thân, trong nhà Thiền gọi là ông chủ thường biết rõ ràng, thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe, mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế chớ không phải là cái ngã dính mắc vào ta, người, chúng sinh, thọ giả. Chữ ngã này trong Kinh Đại Bát Niết Bàn gọi là thường, lạc, ngã, tịnh.
Từ nhỏ đến lớn lúc nào ta cũng sống bám víu vào một người nào đó, nếu không có ai xung quanh thì sợ hãi, bơ vơ, lạc lõng, bởi thế nên ta phải lấy chồng như bao nhiêu người khác dù bị chồng hành hạ, chửi mắng, hất hủi, đánh đập cũng không dám bỏ vì sợ sống một mình. Nỗi lo sợ bị bỏ rơi phải sống một mình là do sự chấp ta và của ta. Ta không thể sống một mình, ta cô đơn, ta buồn tủi, giận hờn đủ thứ phiền não để làm cho “cái ta” này ngày càng chấp ngã thêm.
Ta là người tu khá vì ta thuộc nhiều kinh, ta tụng kinh hay và giỏi nhất không ai bằng. Ta là người giữ giới trong sạch nhất, còn những người khác đều lem nhem không giữ trọn vẹn được. Ta là người công quả và hỗ trợ cho nhà chùa nhiều nhất. Ta cúng dường nhiều cho chùa và thầy, ta được ghi danh vào sổ vàng và được tuyên dương trước mặt mọi người. Ta là người bỏ tiền ra xây chùa to Phật lớn nhất vùng này. Ta là đại thí chủ, là đại gia.
Chùa của ta đẹp nhất, tượng Phật của ta lớn nhất không ai bằng. Ta làm Phật sự nhiều nên ai cũng đều biết danh tiếng của ta là số một cúng dường. Thầy của ta giỏi nhất, nổi tiếng nhất không ai bằng. Pháp môn của ta hay nhất, là pháp môn tối thượng. Ta là một nhân vật quan trọng có tiếng tăm trong nhiều lĩnh vực. Nếu có ai vô ý xúc phạm quyền lợi, danh dự của ta, xem thường ta, chê bai thầy của ta, pháp môn của ta, trái ý ta thì ta nổi giận liền mà tạo ra oan gia trái chủ rồi dẫn đến thù ghét, công kích phá hoại nhau.
Ta ngồi thiền giỏi, ta ngồi lâu hơn nhiều người và nhập được vào định. Ta là người đặc biệt được truyền y bát, được kế thừa tông môn, được truyền riêng pháp môn bí mật. Nói tóm lại, mỗi khi chúng ta khoe khoang, tức giận, kiêu mạn, khinh người thì ta nên biết đó là cái ngã đang tăng trưởng và phình to ra vì có sự thọ nhận.
(Thích Đạt Ma Phổ Giác - http://www.thegioiphatgiao.vn)
________________

CHÂN NGÃ - PHẬT TÁNH
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Phật tánh cũng chính là Ngã, là Như Lai tạng.
Mỗi chúng sanh có một Ngã. Mỗi Ngã là một tồn tại độc lập sở hữu bởi chính nó. Một Ngã không thể chia tách thành nhiều Ngã. Nhiều Ngã không thể nhập thành một Ngã.
Tất cả Ngã đều là một chất liệu duy nhất. Mỗi Ngã là một trường liên tục đồng đều của chất liệu ấy.
Mỗi Ngã trùm khắp Vũ Trụ, chẳng phải nằm trong thân mà cũng chẳng phải nằm ngoài thân.
Ngã không hư hoại, lượng và chất đều không thay đổi, tồn tại vĩnh hằng.
(Pháp Không Chân Như)

TTđTD (tổng hợp)

Không có nhận xét nào: