Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

VẤN-ĐỀ TÂM VẬT TRONG ĐẠO PHẬT

Đạo Phật chủ-trương nhất-nguyên hay đa-nguyên, duy-tâm hay duy-vật?

Đứng ngoài đạo Phật thì "vọng tưởng" rằng đạo Phật là nhất-nguyên, là đa-nguyên, là duy-tâm hoặc là duy-vật. Nhưng bước vào trong đạo Phật, trong rừng giáo-lý – để quan-sát, người ta sẽ thấy một hiện-tượng kỳ lạ. Là khi đứng về hướng nầy, người ta thấy đạo Phật chủ-trương nhất-nguyên, nhưng khi đứng qua hướng kia, lại thấy rõ ràng đạo Phật chủ-trương đa-nguyên. Rồi đứng trên miếng đất này, người ta thấy đạo Phật chủ-trương duy-tâm, nhưng đứng sang miếng đất khác, thì rõ-ràng là đạo Phật chủ-trương duy-vật.

Quả thật là một sự kỳ lạ. Kẻ nóng tính nghe như thế sẽ bực mình và sẽ cho đó là một lối chủ-trương ba-phải. Nhưng không. Đứng về phương-diện triết-học, đạo Phật có những hệ-thống lý-thuyết rất phong-phú, mà tất cả đều đi đến một sự nhất-trí vô-cùng hoàn-mỹ.

Nhiều người nghe câu kinh "tam giới duy-tâm, vạn pháp duy-thức" liền chỉ ngay đạo Phật mà bảo rằng : Ấy đấy, đạo Phật duy-tâm rõ-ràng, còn chối cãi gì nữa. Thực ra, đạo Phật có chối cãi đâu. Đạo Phật chỉ giảng giải rằng chữ TÂM của đạo Phật không phải như chữ TÂM của thế-gian, của triết-học. Phật-học là một môn Tâm-học. Nhưng tâm ở đây không phải là linh-hồn, là tất cả những hiện-tượng tâm-lý, và "tâm-học" của đạo Phật rất khác xa "tâm-lý-học" của triết-học vậy.

Cũng có kẻ thấy đạo Phật chủ-trương bác bỏ thuyết linh-hồn tồn-tại độc-lập (điểm này có thể làm nhiều bạn giật mình), không công-nhận tạo-hóa, thì lại chỉ vào đạo Phật mà bảo rằng : Ấy đấy, đạo Phật duy-vật rõ-ràng, còn chối cãi gì nữa. Thực ra, đạo Phật có chối cãi gì đâu. Đạo Phật chỉ giảng giải rằng cái mà người ta gọi là linh-hồn ấy, đạo Phật gọi ý và thức, và khi xác thân tiêu hoại, ý và thức ấy không còn tác-dụng nữa, nghĩa là không sinh-hoạt như một hồn ma bóng quế như giới ít học hiểu lầm.

Chủ-nghĩa DUY-VẬT là một chủ-nghĩa cho rằng thực tại chỉ là vật-chất. Vũ-trụ, nhân-loại và sinh-vật đều là vật-chất, nói một cách tinh-vi hơn, đều có nền tảng chung là vật-chất. Cả đến phần tinh ba nhất của loài động-vật là tư-tưởng, là cảm-tình cũng đều do nền tảng vật-chất mà có. Những tư-tưởng và tình-cảm ấy không thể phát hiện nếu không có vật-chất. Tinh-thần cũng là sản-phẩm thượng-hạng của vật-chất, duy có tinh tế hơn những sản-phẩm khác như đường, như mật, như sinh-tố, như thần-kinh-hệ… mà thôi.

Người chủ-trương duy-vật thường lý-luận rằng: chỗ nào không có vật-chất thì không thể có tinh-thần, do đó tinh-thần là do vật-chất mà có, tinh-thần là một thuộc-tính của vật-chất .

Ta không cần phải mất thì giờ để bác-bẻ cái quan-niệm nông-cạn và thiên-lệch này trong khi mọi người đều đã thấy cái vô-lý của nó rồi. Tuy nhiên, cũng cần nói rằng duy-vật-luận chỉ chú-trọng đến phần ngoại-giới, xao lãng hẳn phần nội-giới phong-phú sâu-xa mà ở đấy nhà khoa-học chỉ có thể dọi vào những tia sáng ngắn ngủi nhất. Mà dù người duy-vật có để ý đến nội-giới đi nữa thì vẫn xem nội-giới như một đối tượng tầm thường như bao nhiêu đối-tượng vật-chất khác, dù nhà duy-vật cho nó là "một hình-thức tinh-tế nhất của vật-chất". Tinh-thần tự đối-tượng-hóa đã là một việc khó làm, mà tinh-thần tự cho mình là thuộc tính của vật-chất lại là chuyện khó nghe. Đời thuở nào lại có một thứ thuộc-tính kỳ-quái có thể "biết" mình là thuộc-tính của vật-chất!

Còn bảo rằng "chỗ nào không có vật-chất thì không có tinh-thần" cũng thật lạ lùng. Làm như tai mắt người có thể "thấy" được thứ tinh-thần tồn-tại độc-lập vậy. Tai mắt ta chỉ nhận được sự hiện-hữu của tinh-thần nhờ những dấu hiệu vật-chất. Tinh-thần vẫn hiện-hữu đó nếu ta không nhờ một vài dấu hiệu vật-chất, cũng như lúc nào cũng có làn sóng điện, và những âm-thanh chở trên các làn sóng điện ấy, nhưng ta chỉ nhận được sự hiện-hữu của các âm-thanh được chở trên các làn sóng kia nếu ta có một chiếc máy thu-thanh.

Vậy thì nhà duy-vật đừng nên bắt ta đi tìm tinh-thần ở chỗ không có vật-chất. Nhưng nói thì nói thế thôi, chứ đạo Phật cũng không nhận rằng có thể có cái "hiểu biết" (cái mà thế-gian gọi là cái hồn) tồn tại ngoài xác thân loài động-vật. Lát nữa ta sẽ hiểu điểm này.

Chủ-nghĩa DUY-TÂM chủ-trương ngược lại rằng vật-chất không phải thực có, vật-chất không tồn tại ngoài ý-thức chủ-quan của con người. Chỉ có ý-thức chủ-quan là thực-tại, còn bao nhiêu cái khác đều là sản-phẩm của ý-thức chủ-quan, đều là những biểu-tượng của ý-thức, gọi tắt là những "ý-tượng". Duy-tâm-luận chủ-trương ngoài tâm ý của mình không còn gì cả; vũ-trụ, thế-giới, những người khác và chính tâm ý của những người khác cũng không thực-tại.

Người duy-tâm cũng như người duy-vật cố tình phủ-nhận một mặt của sự thực; người duy-tâm cố tình làm ngơ không nhận những ảnh-hưởng và những tác-động của vật-chất của sinh-lý lên tư-tưởng và tâm-lý của mình. Những loài hữu-tình sống chung quanh ta cũng có những cảm-tình, những tư tưởng, nói tóm lại, một tâm lý chủ-quan của họ. Trong sinh-hoạt thường nhật ai không nhận rõ điều đó. Ta không thể chỉ công-nhận có sự tồn-tại của tâm ý riêng ta.

Đạo Phật không vướng vào duy-tâm, không vướng vào duy-vật, nhưng cũng không phải một nhị-nguyên-thuyết. Duy-thức-học đạo Phật chủ-trương rằng ngũ-uẩn tức là toàn-thể những hiện-tượng vật-lý, tâm-lý (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), đều là những thứ phát hiện của "chủng tử" tiềm tại trong A-lại-gia-thức (Alaya – vinnana) mà thôi.

Những hiện-tượng tinh-thần hay vật-chất (sắc pháp và tâm pháp) đều là đứng về thế hiển phát. Khi chưa hiển phát, chúng đứng về thế tiềm-tàng. Đứng về thế tiềm-tàng, chúng gọi là "chủng-tử" (danh-từ của duy-thức-học). Đứng về thế hiển phát chúng gọi là hiện-hạnh . Chủng-tử sinh hiện-hạnh, hiện-hạnh trở về chủng-tử, chủng-tử là hiện-hạnh, hiện-hạnh là chủng-tử, sự phát hiện nầy được tiếp-diễn không ngừng.

Điểm này đòi hỏi chúng ta nhiều kiến-thức về duy-thức-học. Ở đây chúng ta chỉ lược qua đại-cương. Chủng-tử là một thứ "năng-lực" làm bản-chất cho tất cả mọi hiện-tượng tâm-lý và vật-lý, nghĩa là cho mọi hiện-hạnh. Mà toàn-thể chủng-tử nằm gọn trong A-lại-gia-thức, hoặc nói một cách khác, toàn-thể chủng-tử là A-lại-gia-thức. Vậy A-lại-gia-thức là căn-bản cho mọi hiện-tượng TÂM và VẬT.

Mỗi hiện-tượng (tâm-lý hay vật-lý cũng vậy) khi tàn hoại thì trở về chủng-tử đề rồi phát sinh hiện-hạnh khác. Nói thế cho dễ hiểu, kỳ thực vì mỗi hiện-hạnh sinh diệt trong từng giây phút, nên hiện-hạnh luôn luôn trở về chủng-tử và chủng-tử luôn trở thành hiện-hạnh. Sự liên-tục mau chóng quá đến nỗi ta không nhận ra kịp đó thôi.

Các hiện-hạnh sinh khởi cách nào? Sinh khởi theo luật tương-quan tương duyên (loi d’interdépendance). Ví-dụ: ý-thức, lý-trí, tình-cảm thì sinh khởi nhờ nương vào các hiện-tượng sinh-lý vật-lý. Nương vào để được phát-sinh mà thôi, chứ không phải các hiện tượng sinh-lý vật-lý "sinh ra" các hiện-tượng tâm-lý. Hiểu như thế, ta không còn cho tâm sinh vật, hay vật sinh tâm nữa. Chúng nương vào nhau mà tương sinh tương thành, và do chủng-tử ở A-lại-gia. Chủng-tử là "thân nhân duyên" nghĩa là những nhân chính, còn các hiện tượng giúp chúng phát sinh thì gọi là "tăng thượng duyên" nghĩa là các điều-kiện thuận-lợi giúp cho sự phát sinh ấy.

Nguyên-nhân chính của mọi hiện-tượng, như thế, tức là chủng-tử. Nhưng gọi là nguyên-nhân cũng không đúng hẳn; phải gọi là bản-chất. Vậy chủng tử trong duy-thức-học được xem như là một thứ "năng-lực" làm nền tảng cho cả hai loại hiện-tượng TÂM và VẬT.

Tất cả chủng-tử, hiện-hạnh gom góp chung lại, gọi là A-lại-gia.

Sau khi thân xác tiêu hoại, thiếu điều-kiện để "hiện-hành". Các hiện-tượng tâm-lý trở về tiềm phục nơi A-lại-gia. Như thế, không có một linh-hồn tồn-tại ngoài thể xác. Cái tác-dụng tinh-thần kia, sự hiểu biết phân biệt yêu ghét kia không hiện-hành nữa, thì sao gọi là còn linh-hồn được. Tuy nhiên A-lại-gia-thức sẽ biến chuyển, chín muồi, để đem tất cả năng-lực chủng-tử mà phát hiện ra một thế-giới mới, một hoàn-cảnh mới, một sinh-mệnh mới.

Nghe nói thế, có người sẽ cho rằng đạo Phật đã rơi vào duy-tâm. Nhưng không, không có một A-lại-gia tồn-tại độc-lập. Mà có nhiều A-lại-gia của nhiều chúng-sinh. A-lại-gia này tồn tại nhờ sự hiện tồn của A-lại-gia khác, và các A-lại-gia khác cũng tồn tại nhờ A-lại-gia này. Tất cả đều vâng theo luật tương-quan tương-duyên mầu-nhiệm.

Ý-thức chủ-quan của ta nằm gọn trong A-lại-gia ta. Thế-giới khách-quan tồn-tại ngoài ý-thức ấy, nhưng không phải chỉ là một thế-giới hiện-hạnh của riêng A-lại-gia ta, mà là một thế-giới hiện-hạnh do vô số A-lại-gia cọng-đồng kiến-tạo. Điểm này ta sẽ thấy rõ trong giáo-lý tự-biến cọng-biến của duy-nghiệp-luận. Chỉ khi nào A-lại-gia trong sạch, sáng suốt do công phu tinh luyện mà trở thành Đại-Viên-Kính-Trí, nó mới tách rời ra khỏi sự cọng-đồng ấy và thể-nhập về biển Bản-Thể vô cùng rộng lớn thanh-tịnh và sáng-suốt.

Giáo sư Thạc Đức

Không có nhận xét nào: