Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2015

Hạn Chế Sân Hận - Trãi Rộng Tình Thương

Lời nói đầu

Hãy nôn nó ra!

Hãy nôn ra lòng sân hận độc hại khỏi cõi lòng bạn. Sự sân hận đầu độc và bóp nghẹt tất những gì thiện mỹ nơi bạn. Tại sao bạn phải hành động chỉ vì con quái vật độc hại dấu mặt này?

Hãy nôn nó ra, vứt hết đi, không chừa lại một chút gì cả. Bạn sẽ cảm thấy dễ chịu khi vứt bỏ nó đi.

Rồi cõi lòng bạn tràn ngập tình bi mẫn vị tha, thẩm thấu qua từng lỗ chân lông bạn.

Hãy hiển lỗ tâm từ vô nhiễm trào dâng thương yêu. Hãy để những ai đến với bạn đều nhận được vầng quang hảo tâm không thể chối từ, cũng như khi rời xa, họ cảm thấy được cảm thông và can đảm hơn để đối mặt với cuộc đời đầy gian truân và nghiệt ngã này.

Hãy lắng nghe, hỡi các bạn! Tương tự một ngọn đèn rực sáng tuy bé nhỏ nhưng vĩnh hằng, chúng ta có thể thắp sáng nhiều ngọn đèn nhỏ lại, và nhìn kia! Có thể ta vẫn còn phải xua tan đêm đen tuyệt vọng, những âm u vọng tưởng để đem lại ánh sáng trí tuệ và tình thương vô nhiễm…

Sân hận - một cảm xúc huỷ hoại 

Bạn có tức giận không? Dĩ nhiên tất cả chúng ta không ai phủ nhận điều đó. Đôi khi ta bực tức, khó chịu, cáu kỉnh. Chúng ta giận dữ hoặc điên tiết với người này hoặc người nọ vì lý do này hay lý do kia.

Có nhiều sự việc, hoàn cảnh khiến chúng ta bực mình, khó chịu, thường làm chúng ta nổi cơn thịnh nộ giận dữ khi sự việc không xảy ra theo ý mình. Chúng ta muốn mọi việc được thể hiện theo một chiều hướng nào đó nhưng lại diễn biến theo chiều hướng khác, thế là ta lại đùng đùng nổi giận.

Đôi khi ta mong đợi một điều gì đó xảy ra (như tăng lương chẳng hạn) nhưng nó lại không xảy đến, ta cảm thấy bực mình, cáu kỉnh. Kế đó có kẻ trêu tức làm tổn thương lòng tự ái của chúng ta. Họ dễ dàng làm chúng ta nổi khùng.

Quả thật chẳng thiếu gì những trường hợp làm chúng ta nổi giận. Nếu chịu khó quan sát phản ứng và lời nói của chúng ta trong đời sống hàng ngày, ta sẽ thấy nhiều lúc mất bình tĩnh hoặc suýt chút nữa không kiềm chế được cơn giận.

Sự tức giận qua cung cách nói, thái độ, nét mặt, sự bực tức trong giọng nói, gắt gỏng và lớn tiếng – và khi không còn kiềm chế được, chúng ta bắt đầu quát tháo, la hét, đá, đóng sầm cửa, đập bàn, đặt điện thoại mạnh tay hoặc thậm chí hành hung một người nào đó.

Trong vài trường hợp cực độ, có người đã qua đời vì tức giận: khi cơn giận dữ lên cao độ, họ ngã ra chết vì chứng đột quỵ tim!

Sự giận dữ thay đổi theo cường độ. Với người nóng tính, nó dễ bộc phát; với người ôn hoà, họ có vẻ trầm tĩnh.

Có kẻ vẫn nuôi lòng oán hận lâu dài sau khi cơn giận trôi qua trong khi người khác lại dễ dàng tha thứ.

Dù trường hợp nào đi nữa, thì sự thật là trong chúng ta ai cũng có cảm giác tức giận, chỉ khác nhau ở mức độ và tần số cảm xúc. Ngay cả những người ôn hoà nhất cũng có lúc biểu lộ bực mình khó chịu khi sự chịu đựng vượt quá mức giới hạn hoặc chịu quá nhiều áp lực căng thẳng.

Chúng ta nên giận dữ không? Có sự tức giận nào được chấp nhận không? Giận dữ quát tháo người khác, mất bình tĩnh, đùng đùng nổi giận, tất cả những điều này đúng hay sai? Giận dữ là một lối sống giữa những con người trên cõi đời này chăng?

Chúng ta đón nhận nó như thể được ban tặng và chấp nhận như là một điều tự nhiên không thể tránh được? Đọc báo hàng ngày, chúng ta thấy dẫy đầy cơn tức giận và lòng thù địch trên hành tinh chúng ta.

Khi đọc tin tức về cuộc chiến tranh xung đột liên tục ở nhiều nơi trên thế giới, ta có dừng lại để tự hỏi tại sao con người không thể sống chung hoà bình như anh chị em được chứ? Sao chúng ta lại quá nhiều hiềm thù, tàn nhẫn, thiếu vắng lòng khoan dung?

Vì cớ gì một số người sẵn sàng tàn sát những người vô tội để đạt tham vọng của mình? Tại sao các nước lại đua nhau chế tạo những vũ khí hạt nhân huỷ diệt mọi người trên thế giới? Sao lại có quá nhiều lo âu và ngờ vực lẫn nhau?

Sự sân giận bắt nguồn từ cõi lòng chúng ta và tình thương cũng thế. Chúng ta chắc chắn rằng sân hận là tội ác, phải triệt để ngăn cấm nó hoạt động trong trái tim và tâm hồn chúng ta. Nó là một cảm xúc mang mầm móng huỷ hoại tạo ra bao thống khổ trên đời. Nó phát sinh từ tâm, và ngay tại nguồn gốc khởi thuỷ này, nó phải được kiểm soát để loại trừ.

Trong bài diễn văn mở đầu thành lập Tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc, điều này đã được khẳng định: “Vì chiến tranh bắt đầu từ tâm ý con người nên sự bảo vệ hoà bình cũng phải được thiết lập ngay từ nơi đó”.

Santideva trong tác phẩm Bodhicaryavatara (Đường đi tới Giác ngộ) đã viết: “Ta đã giết biết bao người gây tội ác cho đủ đây? Số lượng này vô biên như bầu trời. Nhưng nếu ý niệm sân hận thù địch bị tiêu diệt thì tất cả kẻ thù sẽ không còn nữa”. 

Sân hận làm đời ta đau khổ, nếu ta tiếp tục chấp nhận và không cố gắng chế ngự nó, có nghĩa là ta tiếp tục sống cuộc sống hỗn loạn. Cứ mỗi lần bực mình, khó chịu, tức giận, chúng ta lại bắt đầu thiêu đốt chính mình. Cảm giác cháy bỏng gia tăng theo cường độ của cơn giận; càng giận dữ, ta càng cháy bỏng nhiều hơn.

Quả là một cảm giác vô cùng đau khổ. Bạn có thể quan sát điều này nơi chính bạn. Khi bạn rơi vào tâm trạng bực mình, tức tối, hãy quan sát trạng thái của tâm rồi bạn sẽ phát hiện ra được nỗi đau đớn thống khổ mà bạn đang chịu đựng trong lúc tức giận hoặc rối loạn.

Sân hận là tình trạng bất ổn của tâm. Đức Phật không bao giờ chấp nhận bất cứ sự sân hận nào. Đối với Phật giáo, hoàn toàn không có cái gọi là sân hận chánh đáng. Tất cả sự sân hận, dù ở mức độ nhẹ nhất cũng là bất ổn. Nó được xem như thuốc độc gây hại cho TÂM. Do đó, đức Phật kêu gọi chúng ta lấy tình thương báo đáp thay vì thù hận.

Phật thuyết:

“Lấy oán báo oán, oán ấy chất chồng. Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan”.

Có lúc Ngài cũng đã kêu gọi:

“ Hãy chinh phục con người đầy thù hận bằng lòng từ ái”.

Để nhấn mạnh điểm này, trong buổi giảng đoạn pháp so sánh, đức Phật thuyết rằng thậm chí kẻ cướp chặt đứt chân tay của chúng ta, ta cũng không nên khởi sân hận dù nhỏ nhặt nhất.

Nếu ta khởi lên một chút sân hận, nghĩa là ta không tuân theo lời chỉ dạy của Ngài. Thay vào đó, đức Phật khuyên ta nên thương xót kẻ hành hạ mình.

Phật thuyết:

“ Vì vậy, các ngươi phải rèn luyện chính bản thân mình”.

Ngài nói tiếp:

“Nếu tâm bình thì ác khẩu không khởi, tâm chỉ còn niềm cảm thông trọn vẹn và cởi mở, một tấm lòng đầy từ ái, không còn chi phối bởi bất cứ ác nghiệp nào.

Với tâm từ bi rộng lớn, sâu thẳm vô biên, ta sẽ cảm hoá những kẻ ác nghiệp thoát khỏi sân hận và oán thù”. 

Sự thành tựu tâm từ bi của đức Phật là thế đấy. Khi còn là một vị Bồ tát, trải qua vô số tiền kiếp chịu đựng biết bao tra tấn hành hạ đến chết vẫn không khởi lên một chút sân hận nào đối với kẻ hại mình.

Trong kiếp cuối cùng đắc quả Phật, Ngài luôn thanh thản, không bao giờ đánh mất sự trầm tĩnh và an tịnh. Lúc con voi điên cuồng Nalagiri đâm bổ tới tấn công đức Phật, Ngài đã khuất phục nó bằng cách hướng lòng bi mẫn thương xót về nó. Thời gian 49 năm hoằng pháp của đức Phật không ngừng nghỉ là một minh hoạ về lòng bi thương xót chúng sanh.

Dĩ nhiên, đức Phật không phải là bậc giáo chủ duy nhất rao giảng lòng từ bi; các bậc giáo chủ khác đều làm như thế. Chú Kitô dạy: “Hãy yêu thương láng giềng của con như chính bản thân con”. “Nếu có ai đó tát vào má phải của con, con hãy chìa má bên trái ra”.

Thánh Mahatma Gandhi, chủ trương bất báo động, dạy rằng: “Nếu máu phải đổ, thì đó hãy là máu của chúng ta. Hãy học tập lòng can đảm thầm lặng, thà chấp nhận chết quyết không giết hại kẻ thù. Với một kẻ mà sự sống có nghĩa là sẵn sàng chấp nhận cái chết trong tay đồng bào ruột thịt của mình nếu cần, thì không bao giờ giết hại họ”.

Điều này gợi nhớ đến câu chuyện một vị sư bị một tay kiếm khách hung tợn đe doạ. Tay kiếm khách hét lên: “ Bộ nhà ngươi không biết ta là kẻ giết người không chớp mắt chứ?”. Vị sư đáp “Vâng, thưa ngài, tôi là kẻ sẵn sàng chết mà không chớp mắt đây!” . Trước một người dũng cảm như thế, tay kiếm khách quay bước bỏ đi. 

Ngoài việc gây độc hại cho tinh thần, cơn sân hận và lòng thù địch còn tạo ra mối nguy hiểm cho cơ thể chúng ta. Y học đã khẳng định sự tức giận cùng những cảm xúc vô bổ khác đều góp phần tạo nên bệnh tật. Khi tức giận, cơ thể phóng thích một số hoá chất làm rối loạn sự điều hòa cơ thể. Nếu buồn phiền sân hận thường xuyên thì lâu dài sẽ dẫn đến nhiều bệnh tật như loét bao tử, rối loạn tiêu hoá, táo bón, cao huyết áp, rối loạn tim mạch, thậm chí ung thư. 

Nói cách khác, sự trầm tĩnh và thanh thản giúp người ta ổn định tinh thần lẫn thể xác. Chúng ta sẽ khoẻ hơn, hạnh phúc và sống cuộc sống trọn vẹn hơn. Một số bệnh kinh niên, chẳng hạn như rối loạn tiêu hoá, sẽ không còn. Những bệnh trạng khác cũng có thể bị đẩy lùi dần.

Sự thanh thản tươi sáng cuả tâm hồn thư thái biểu lộ qua dáng vóc, diện mạo chúng ta, đến đâu ai ai cũng quý mến. Chẳng ai trên đời thích chung đụng với kẻ cáu gắt, dễ nỗi giận bao giờ; thí dụ như một ông chủ lúc nào cũng chau mày tháo quát nhân viên, đều bị mọi người xa lánh và chán ghét, nhân viên sẵn sàng bỏ việc ra đi nếu có dịp.

Ngược lại, một người chủ luôn vui vẻ, tốt bụng, sẵn sàng giúp đỡ, không bao giờ nổi nóng thì ai ai cũng yêu thương và quý mến. Với một người chủ như thế thì chẳng nhân viên nào bỏ đi dù nơi khác có trả lương cao hơn. 

Thêm vào đó, tính tình đức hạnh của bạn gây ảnh hưởng với tất cả những ai tiếp xúc với bạn. Bạn sẽ là tấm gương cho người khác noi theo. Để thay đổi thế giới này, ngoài cách làm gương mẫu cho người khác noi theo còn cách nào khác tốt đẹp hơn, chân thực hơn nữa chứ?

Đúng vậy, bằng cách thay đổi chính bản thân chúng ta và làm gương mẫu cho người khác, chúng ta đã thực sự đóng góp tích cực cho thế giới này tốt đẹp hơn.

Điều đáng để chúng ta suy ngẫm là: Thế giới này là tất cả mọi người, mọi người làm nên thế giới này. Vậy nếu bạn thay đổi mọi người có nghĩa là bạn đang thay đổi cả thế giới.

Và bạn hãy bắt đầu với chính bản thân mình. Sau cùng thì bạn cũng là một con người trong số những con người trên thế giới này đấy chứ? Do đó, khi bạn thay đổi chính mình có nghĩa là bạn đã thay đổi thế giới với ý nghĩ rằng thế giới này đã giảm đi một người nóng tính.

Nếu thêm nhiều người tự thay đổi thì thế giới sẽ thay đổi thêm ở phạm vi đó. Sự xung đột và rối loạn trên thế giới sẽ sụt giảm khi có nhiều hơn nữa những người yêu chuộng hoà bình ở khắp nơi. 

Nhận chân được tai hại mà cơn sân hận đem đến cho ta và tha nhân, chúng ta hãy xua tan nó đi và mở rộng tình nhân ái, quan tâm và chịu đựng, hiền hoà và tốt bụng. Đừng cư xử khắc nghiệt và cũng không nên làm cho kẻ khác bối rối, hoang mang, ngượng ngùng, sợ hãi.

Hãy nhìn xem chung quanh chúng ta: thế giới này có quá nhiều đau khổ rồi, đừng chồng chất thêm nữa. Thay vào đó, chúng ta hãy tạo nên một nguồn sống an lành thanh bình, như thể một ngọn đèn thắp sáng cho cả thế giới để những ai đến với tình thương đều sống an lành, hạnh phúc hơn.

Quyết tâm hạn chế sân hận và ban rải tình thương chỉ là bước đầu tiên. Bước kế tiếp là làm thế nào để thực hiện được. Thật không dễ kiểm soát cơn giận khi nó bộc phát. Cần nhiều nỗ lực và sự khéo léo mới có thể chế ngự nó. Do đó, trong những trang sau, chúng ta sẽ thảo luận về phương hướng kiềm chế sân hận.

Chủ yếu gồm có chánh niệm (jati) và quán chiếu sáng suốt (yoniso manasi kàra). Bằng cách chú tâm, ta có thể bóp tan cơn giận ngay khi còn trong trứng nước, ngay cả khi nó chuẩn bị khởi lên, và xét đoán nhiều khía cạnh nguyên nhân tại sao ta không nên bực tức, điều này sẽ nhắc nhở củng cố ý nguyện tha thiết tống khứ sự cáu kỉnh ra khỏi tâm thức ta ngay tức thời để buông bỏ nó như buông rơi một viên gạch nóng bỏng, nếu có thể nói như thế.

Trong phần III, chúng tôi sẽ trình bày sự quán tưởng lòng từ bi ( mettà bhavanà ), đây là phương pháp “đối trị” hữu hiệu nhất với sự sân hận. Chúng tôi tin rằng nếu độc giả chịu khó xét đoán nhiều nguyên nhân tại sao mình không nên bực tức thì độc giả không còn muốn sân hận chút nào nữa, và lần kế tiếp nếu sự tức tối khởi lên, độc giả chỉ muốn buông nó ngay lập tức. Cùng lúc trau dồi chánh niệm và lòng từ bi, độc giả sẽ đưa được con ma sân hận đến nơi yên nghỉ.

Nguyện cho tất cả chúng sanh được an lạc. Nguyện tất cả chúng sanh nhổ bật cội rễ sân hận oán thù để trở thành hiện thân của tình thương bao la, trí tuệ và bi mẫn.

Pháp đối trị sân hận 

Quy luật đầu tiên

Chánh niệm là người bảo vệ đầu tiên và hữu hiệu chống lại sân hận cùng với những bất ổn của tâm. Thế nào là chánh niệm? Đó là sự hiện diện của tâm, thức giác, biết rõ những gì đang xảy ra ngay thời điểm khởi phát. Do đó, giây phút sân hận khởi lên, ta phải áp dụng chánh niệm.

Ta phải nhanh chóng nhận thức ra sự khởi lên của cơn sân hận trong ta. Ta phải chú ý, xác định hoặc nhủ thầm: “ A! Cơn giận ở trong ta. Cơn giận đang khởi lên ở trong ta”. Hoặc ngắn gọn như “sân hận, sân hận”. Và nếu không thích nhủ thầm như thế, ta chỉ cần ý thức sự hiện hữu của sân hận là được.

Cơn sân hận khởi lên đây đó và sự hiện diện của nó được xác nhận, đơn giản chỉ cần nhận biết nó, cũng mang lại lợi ích trong việc kiểm soát cơn sân hận. Tại sao? Bởi vì, bất cứ khi nào sự bực tức khởI lên, bao giờ nó cũng nhận chìm chúng ta trước khi chúng ta phát hiện ra nó. Nó tạo ra đám mây mù che kín tâm ta và làm tê liệt sự xét đoán nhạy bén của chúng ta.

Nói cách khác, sự giận dữ hoàn toàn chế ngự tâm thức ta. Vào lúc này, hầu như chúng ta thực sự không còn tỉnh giác nữa, nếu có còn chăng chỉ là tâm trạng phẫn nộ trong ta. Thay vì đáp trả, phản ứng với nó, chúng ta lại để cho nó nuốt chửng mình. Sắc mặt ta biến đổi, chúng ta bắt đầu ăn nói hằn học, khoa chân múa tay, thậm chí chửi mắng người nào đó.

Chánh niệm giúp ta giải quyết tất cả vấn đề này; nó ngăn chặn cơn giận nhấn chìm chúng ta. Nó lập nên sự hiện hữu tối cần của thức giác. Chỉ cần nhận biết rõ cũng giúp giải toả được cảm xúc sôi sục. Thay vì đáp trả, phản ứng với cơn sân hận, chúng ta lặng lẽ quan sát nó, theo dõi cảm xúc bực tức nóng nảy. Và trong quá trình quan sát như thế, cơn sân hận lắng dần. Thoạt đầu, nó suy yếu rồi từ từ tan biến đi. 

Hơn nữa, trong khi quan sát cơn sân hận, ta không hề mảy may đến người, vật, hoặc bối cảnh khiến ta phẫn nộ.

Chúng ta hướng vào bên trong, chú tâm đến trạng thái tâm thức của mình, chú ý dõi theo sự hiện diện của cảm xúc giận dữ. Thật hợp lý, khi chúng ta chuyển dịch sự chú ý từ nguyên nhân gây phẫn nộ sang sự nhận biết chân thực chính cơn phẫn nộ đó, vì là một cảm xúc nên cơn giận sẽ giảm dần.

Nếu chúng ta chỉ tiếp tục chú ý đến nguyên nhân (chẳng hạn như một kẻ nào đó) làm ta bực tức thì dĩ nhiên ta sẽ trở nên giận dữ hơn. Nhưng khi chánh niệm loé sáng, sự bực tức không còn phát triển được nữa. Nó bị chặn đứng, và nếu ta tiếp tục chú ý quan sát, nó sẽ lắng xuống dần, cuối cùng tan biến đi. 

Điều kỳ diệu là sự tức giận tự tan biến mà không cần phải đè nén hoặc chống lại nó. Bạn không cần nghiến răng, nắm chặt bàn tay lại hoặc dùng toàn thể sức mạnh tinh thần để kiềm chế nó; chỉ cần lặng lẽ quan sát, nó sẽ giảm dần và biến mất.

Đây là phép lạ của chánh niệm. Điều này thật rõ ràng, nhất là trong giai đoạn tập trung tư tưởng cao độ của thiền giả, chánh niệm đặc biệt nhạy bén, có thể hạ gục sân hận hoặc bất kỳ sự bất ổn nào của tâm bằng biện pháp đơn giản: chú tâm.

Điều lợi nữa của chánh niệm là cho ta cơ hội lắng tâm và đưa ra quyết định đúng đắn. Khi chú tâm để nhận ra sự hiện diện của sân hận, chúng ta không bị cuốn hút theo cảm xúc.

Chánh niệm cho ta thời gian để quán chiếu và quyết định hướng giải quyết sáng suốt. Trong lúc lắng tâm, chúng ta có dịp may để thực tập những điều mà đức Phật thường hay đề cập như là yoniso manasikàra bằng cách quán các pháp về tội lỗi và tai hại của sân hận.

Trong quá trình quán, sân sẽ tự yếu dần và khi mà càng lúc ta lại càng chẳng muốn sân nữa thì sân hận sẽ thoái lui. Ý niệm không tức giận hoặc ý niệm không còn tiếp tục nữa sẽ sanh khởi và cuối cùng sân hận tan biến.

Do đó, quy luật đầu tiên là thực tập chánh niệm. Nếu chánh niệm trở thành thói quen luôn chú tâm đến những thay đổi đầy ý nghĩa trong tâm thức, thì bạn sẽ trở thành người có bản lĩnh đến độ có thể “chộp bắt” sự bực tức ngay thờI điểm nó sanh khởi.

Bạn có thể cảm nhận và biết rõ nó đang lớn dần, và bằng vào nhận thức chân thực đó, bạn bóp tan nó ngay từ trong trứng nước, loại trừ nó hoàn toàn trước khi nó hiện trên nét mặt hoặc bộc lộ qua cử chỉ của bạn. Đó là điều kỳ diệu của chánh niệm – có khả năng đốn ngã tức khắc sự bất ổn của Tâm.

Vấn đề kế tiếp là làm thế nào quán tưởng các pháp để loại trừ sân hận nếu như ta không thể tống khứ hoàn toàn nỗi bực tức bằng pháp chánh niệm. Có nhiều pháp để quán, ở đây chúng ta sẽ xem xét nhiều loại pháp quán khác nhau.

Chúng tôi nghĩ rằng nếu bạn tiếp tục đọc đến trang cuối, bạn sẽ tin chắc là mình sẽ không còn muốn bực tức, cau có nữa và nhận thức rõ sự tức giận chẳng mang đến lợi lạc nào cả. Bạn sẽ không bao giờ muốn nổi nóng nữa.

Chỉ riêng sự tin chắc này thôi, cũng đủ mang lại lợi lạc trong việc đưa tinh thần bạn đến sự cảm nhận mốI quan hệ bạn bè thân thiết, chấm dứt bực tức, khó chịu, hướng đến sự an tịnh và thanh thản.

Bằng sự quyết tâm và ước muốn tốt đẹp này, bạn khó lòng mà chấp nhận nhượng bộ cơn sân hận, chịu sự sai sử của nó như trước đây bạn đã từng làm.

Hơn nữa nếu sân hận sanh khởi hết lần sang lần khác có vẻ như nó vẫn tiếp tục kiên trì nhưng không còn mạnh bạo nữa. Bạn có thể nhớ lại và áp dụng các pháp đối trị mà chúng ta sẽ thảo luận ở đây.

Một điều cần lưu ý là trong khi áp dụng chánh niệm và quán chiếu sáng suốt, tuyệt đối không được đè nén cơn giận. Sự bực tức tự thoái lui trong quá trình tỉnh giác hơn là quán chiếu. Ở phương Tây, đôi khi người ta cho rằng khi cơn giận bị đè nén thì nó tác hại cho sức khoẻ.

Vì thế, theo trường phái tư tưởng này, điều tốt nhất là bộc lộ cơn giận để giảm bớt căng thẳng. Theo trường phái khác, có nhiều sự nghiên cứu ở phương Tây cho rằng việc bộc lộ cơn giận công khai sẽ có hại.

Dù thế nào đi nữa thì đối với Phật giáo, việc tự cho phép mình bộc phát cơn giận nhằm giảm sự căng thẳng là điều không thích hợp chút nào cả. Đức Phật không hề đề nghị hoặc cho phép như thế; ngược lại, Ngài kêu gọi chúng ta biến oán giận thành tình thương.

Cho sự tức giận được tự do bộc phát có nghĩa là chúng ta để cho tâm thức mình bị ô nhiễm nặng hơn và tạo thêm nhiều ác nghiệp, đồng thời ta lại làm cho kẻ khác đau khổ. Trong vài trường hợp cực đoan, người ta đã gây ra án mạng chỉ vì cuồng nộ mà nạn nhân đôi khi là những người vô tội.

Phương pháp giải quyết của Phật giáo mà chúng ta đang thảo luận không hề có tính cách đè nén sự bực tức. Chánh niệm như đã đề cập, hoàn toàn không có gì là đè nén mà đơn thuần chỉ là sự nhận thưc trạng thái tâm khi cơn giận xảy đến trong ta.

Bằng nhận thức và quan sát, cơn thịnh nộ lắng dần theo chiều hướng tự nhiên của nó. Và việc áp dụng sự quán chiếu sáng suốt cũng không dính dấp gì đến vấn đề đè nén. 

Giải pháp tối ưu 

Duy trì sự điềm tĩnh 

Nghệ thuật giữ gìn bình tĩnh và thanh thản là điều gì đó hoàn toàn biến mất trong đời sống hiện đại của chúng ta.

Nhịp sống cuồng nhịp, vội vã, đề cao sự chụp giựt vật chất, sản xuất và tiêu thụ bừa bãi, tất cả những ảnh hưởng lan tràn của phương tiện truyền thông quảng cáo cùng nhiều khía cạnh khác của cuộc sống tân tiến đã góp phần tạo nên sự xói mòn những giá trị tinh thần và nền tảng đạo đức, đồng thời khiến cho tâm chúng ta dễ dàng mất đi sự yên tịnh, luôn hiếu động, bồn chồn, lo sợ và giận dữ.

Thực sự đã đến lúc chúng ta cân bằng sự phát triển tinh thần, tính bình dị, điềm tĩnh và thanh thản. Để phát huy đức điềm tĩnh, không nhất thiết dùng giới luật thiền quán. Áp dụng thiền quán chánh niệm cũng là một giải pháp. Tuy nhiên, đi sâu vào chi tiết thiền quán chánh niệm không nằm trong phạm vi bài này, bạn có thể tìm hiểu ở một số sách khác.

Sự quán tưởng về tình thương, lòng từ bi là một pháp tối ưu nhất có hiệu quả đối trị tất cả hình thức sân hận, oán thù và ác tâm. Đây là một pháp lý tưởng cho những ai có tính khí hay ganh ghét hoặc dễ cáu giận. Do đó, chúng tôi sẽ giải thích pháp quán tưởng tình thương trong phần sau của cuốn sách này.

Trong lúc này, điều quan trọng là chúng ta cố gắng trau dồi thái độ điềm tĩnh, thanh thản vào mọi lúc. Nếu chúng ta nỗ lực kiên trì và có chủ đích khi tiến hành như thế, thì những cảm xúc hỗn loạn như giận dữ chẳng hạn khó lòng cuốn hút chúng ta được.

Vì vậy, từ giờ trở đi, chúng ta phải cố gắng duy trì sự điềm tĩnh không gián đoạn trong tất cả những gì mình làm. Chúng ta nói năng ôn tồn, có tỉnh giác, không phải phát biểu do bị kích động, để ý giám sát sự hiếu động, bồn chồn bất cứ khi nào chúng sanh khởi trong tâm.

Chúng ta giữ cử chỉ, hành vi điềm đạm, thư thái. Nếu chúng ta khởi sự những hoạt động hàng ngày của mình điềm đạm, chánh niệm và có chủ đích, chúng ta sẽ cảm nhận được niềm an lạc thư thái đầy thú vị. Trong cảm giác tĩnh lặng, thanh thản đó, bạn sẽ tìm thấy nhiều quyền năng và năng lực để hoàn thành nhiệm vụ cùng mục tiêu của mình.

Do đó, “pháp đối trị” thứ hai là trau dồi duy trì sự điềm tĩnh và ổn định. Thánh Abba Dorotheus đã diễn đạt điều này khá chính xác khi ông nói: “Qua những gì ngươi làm, dù khẩn cấp hay quan trọng đi nữa, ta không muốn ngươi gây gổ hoặc lo âu.

Để đảm bảo tinh thần thanh thản, mọi việc ngươi làm, lớn hoặc nhỏ, chỉ chiếm một phần tám công việc, trái lại giữ cho tâm ổn định không rối loạn dù dẫn đến thất bại đi nữa, cũng đã đạt được bảy phần tám còn lại.

Tuy nhiên, nếu chỉ để hoàn tất việc mình mà ngươi bị cuốn hút đi khiến tâm ngươi và tâm kẻ khác bất ổn qua việc gây gổ, thế thì ngươi không nên đánh đổi bảy phần tám chỉ vì để giữ lại được một phần tám”..,

Gương lành của Đức Phật

Với tư cách là những Phật tử, chúng ta nên để ý đến lời khuyên và gương tiêu biểu của Đức Phật. Đã nhiều lần, Ngài biểu lộ đức tính kham nhẫn tột bực khi đối mặt với sự khiêu khích cực độ. Không khi nào Ngài bực tức, mà trái lại, Ngài đã ban rải lòng từ bi ngay cả với kẻ hãm hại mình.

Không khởi tâm sân khi Devadatta cố giết Phật cho bằng được, rồi lúc nàng Cinca vu khống Ngài về thai nhi trong bụng nàng, kế tiếp Ngài bị vu oan về tội giết chết người đàn bà lang thang từ phương khác đến.
Không những chỉ trong kiếp cuối cùng mà còn trong nhiều kiếp trước, lúc còn là Bồ tát, đức Phật đã biểu lộ lòng kham nhẫn chịu đựng vô biên. Trong kinh Khantivàdijàtaka (câu chuyện luân hồi tuyên dương lòng kham nhẫn) cho thấy lòng kiên nhẫn biết bao của Bồ tát.

Truyện kể rằng, có vị vua tàn ác tên là Kalabu của xứ Kasi đối chất với Bồ tát trong khi còn là một nhà sư tu khổ hạnh. Vua hỏi: ”Này kẻ ẩn dật kia, nhà ngươi truyền dạy điều gì?”. Bồ tát đáp: “Thưa bệ hạ, thần dạy tính kham nhẫn”

“Tính kham nhẫn là gì?”

“Có nghĩa là không sân hận khi người khác nguyền rủa, đánh đập hoặc sỉ nhục mình”.

Vua phán: “Vậy để ta xem tính kham nhẫn của nhà ngươi như thế nào?”. Vua cho gọi đao phủ hành hình đến, rồi ra lệnh đánh roi vào Bồ tát cho đến khi rách da, máu tuôn ra. Vua lại hỏi Bồ tát: “Này nhà sư kia, ngươi truyền dạy điều gì?”.

Bồ tát đáp: “Thưa bệ hạ, thần dạy tính kham nhẫn. Bệ hạ nghĩ kham nhẫn nằm nơi lớp da thịt này, nhưng không phải thế, bệ hạ không thể nhìn thấy được nó vì kham nhẫn đã bám rễ vững chắc trong lòng thần”.

Trước sự chứng kiến của cung phi mỹ nữ và vì lòng ganh tỵ, khiến vua tức giận bèn lệnh cho đao phủ chặt đứt tay chân Bồ tát và máu Bồ tát tuôn xối xả.

Một lần nữa, nhà vua buông lời chế nhạo Bồ tát: “Nhà ngươi giảng dạy điều gì?”.

“Tâu bệ hạ thần dạy tính kham nhẫn. Bệ hạ cho rằng tính kham nhẫn nằm ở chân tay của thần. Không phải thế, kham nhẫn đã mọc rễ vững chắc nơi sâu thẳm trong lòng thần”.

Vua ra lệnh: “ Cắt đứt tai, mũi của hắn”. Đao phủ tuân lệnh. Toàn thân Bồ tát phủ đầy máu. Khi nhà vua hỏi lần nữa, Bồ tát đáp: “Tâu bệ hạ, thần dạy tính kham nhẫn. Nhưng đừng nghĩ là kham nhẫn nằm ở nơi tai, mũi của thần. Kham nhẫn đã mọc rễ chắc chắn ở nơi sâu thẳm trong lòng thần”. 

Vua nói: “Nhà ngươi có thể ngồi xuống và tán dương tính kham nhẫn của mình”. Vua đá vào ngực Bồ tát rồi bỏ đi.

Vị quan chỉ huy binh lính, có mặt lúc đó đã lau máu trên thân Bồ tát, băng bó vết thương và ngỏ lời xin Bồ tát tha thứ: “Thưa sư, nếu Ngài có giận thì giận đức vua chứ đừng giận vương quốc này”.

Bồ tát trả lời rằng, Ngài không giận ai hết, kể cả đức vua. Hơn thế nữa, Ngài còn ngỏ lời chúc tụng vua: “Bệ hạ vạn tuế, mọi người đều mong thần không giận”. Hôm đó Bồ tát qua đời, còn vị vua bị mặt đất nuốt chửng khi rung chuyển vì hành động tàn ác của mình và chuyển vào cảnh giới địa ngục.

Sự mô tả tính kham nhẫn không hề sân hận của Bồ tát như thế là một nguyện vọng, một bài học cho tất cả chúng ta. Là Phật tử, nếu chúng ta muốn trở thành đệ tử chân chánh của Phật, chúng ta phải cố gắng chú tâm đến lời dạy bảo của Ngài. Trong phẩm Dụ cái cưa, thậm chí ở kiếp cuối cùng, đức Phật dạy rằng:

“Ngay cả những kẻ cướp chặt đứt tứ chi của chúng ta, thì ta cũng không nên đem lòng sân hận mà hãy nhủ lòng thương xót, nguyện cho những kẻ cướp này cùng tất cả chúng sanh được an lạc và hạnh phúc”.

Chắc chắn đó là lời răn dạy khó theo nhất, đồng thời nó cũng nhấn mạnh đến quan điểm: Không hề có mảnh đất nào dành cho lòng sân hận trong lời dạy của đức Phật. Vậy chúng ta sẽ làm cho cõi lòng mình tràn ngập tình thương bi mẫn và buông bỏ tất cả sân hận. Do đó, lưu ý là chúng ta nên ở tư thế sẵn sàng để kiểm soát sân hận khi nó sanh khởi.

Hãy nhớ rằng tất cả chúng ta đều phải chết

Cuộc đời chẳng qua là một bóng mát bên đường, một diễn viên tồi, bước khập khễnh đầy sầu 
thảm suốt vai diễn trên sân khấu, rồi sau đó không còn nghe ai nói đến: vở diễn là một câu chuyện được kể bởi thằng ngốc, đầy ồn ào và phẫn nộ, chẳng mang lại ý nghĩa nào cả.
(Shakespeare, Macbeth)

Những kẻ khác không biết được rằng sống trên cõi đời này tất cả chúng ta đều phải chết.

Những ai biết được điều này đều không còn hơn thua nữa.
(Đức Phật, kinh Pháp Cú)

Trong đoạn thơ trên, Shakespear nhắc nhở chúng ta về sự bất trắc, cái chết và lối sống ngốc nghếch của chúng ta. Lời nói của đức Phật cũng là sự nhắc nhở đúng lúc, báo cho chúng ta biết cái chết hiện hữu mọi nơi, bám sát từng bước chân của chúng ta.

Quả vậy, phải chăng trong phút giây sân hận, ta thường quên rằng tất cả chúng ta đều phải chết vào một ngày nào đó? Rồi khi suy gẫm đến cái chết, ta tự nhủ: “A! Giận dữ để làm gì chứ? Cuộc đời ngắn ngủi. Nay mai tất cả chúng ta sẽ chết.

Tức giận hoặc lo âu có ích gì đâu, chỉ tổ làm ta thêm xáo trộn. Vậy thì ta hãy làm những gì mình có thể làm được mà không gây thêm xáo trộn và phiền phức. Ta sẽ sống thanh thản với chính mình, với cuộc đời. Sau cùng, ta quyết không gây gỗ với ai nữa” và v.v… Khi suy nghĩ khôn ngoan như thế, người ta có thể bình tĩnh lại và quyết định thoát khỏi sân hận.

Thực vậy, suy gẫm đến cái chết ít nhất một ngày một lần quả là lợi ích. Đức Phật đã dạy chúng ta về pháp Maranasati (Quán tưởng cái chết) để sớm đi vào thiền quán và tu tập trí tuệ. Quán tưởng về cái chết giúp chúng ta nỗ lực sống một cuộc đời có ý nghĩa và trọn vẹn, không lãng phí thời gian vào những cuộc theo đuổi vô ích.

Trong tác phẩm Vipassana (Tuệ giác), đạo sư Joseph Goldstrin diễn đạt: “Nếu ta xem cái chết là động lực khuyên răng, ta sẽ sống từng giây phút trọn vẹn đầy sinh lực cho nỗ lực cuối cùng trên cõi đời này”.

Vì vậy, thật lợi ích khi ta luôn tâm niệm: “Kiếp người mong manh và cái chết thì chắc chắn phải đến” hoặc “Than ôi! Đời người thật ngắn ngủi làm sao!”. Hữu hạn và phù du, đầy đau khổ. Ta nên tri giác điều này, tạo hành động thiện nghiệp và sống cuộc đời thánh thiện vì xưa nay chẳng có kẻ nào vượt thoát được thần chết.

Tác hại sân hận trên chính mình

Bạn có muốn gây hại cho mình không? Dĩ nhiên không ai muốn thế. Nhưng khi tức giận, thực sự ta đã làm hại chính bản thân mình. Trong bản thiền quán Visuddhi Magga (Thanh tịnh đạo), điều này được khẳng định:

“Khi tức giận ai, bạn có thể hoặc không làm kẻ đó đau khổ, nhưng điều chắc chắn trước mắt là chính bạn khổ”.

“Trong cơn tức giận, bạn muốn kẻ đó phải khổ và điều này tương tự như bạn nhặt lên một cục than hồng đang cháy bỏng hoặc một cục phân hôi thối, như thế trước tiên chính bạn bị bỏng hoặc chính bản thân bạn bốc mùi. Ôi, còn ai ngốc nghếch hơn bạn nữa chứ!”.

Dù kẻ đó khổ hoặc không khổ, nhưng điều chắc chắn là chính mình đã gây khổ cho mình. Gây khổ thế nào? Trước tiên, bằng việc giận dữ, ta đã đầu độc tâm mình, vì sân hận là trạng thái bất ổn của tâm; khi tức tối, ta gây tổn hại và ô nhiễm tâm.

Là Phật tử, chúng ta nên biết rằng bất cứ một sự bất ổn nào của tâm (akusala citta) đều đưa đến những hậu quả rối loạn (akusala vipàka). Vì thế, nếu ta không muốn tích tụ nghiệp báo ác (kamma vipàka) thì tốt hơn hết chúng ta nên tránh sân hận và các trạng thái bất ổn của tâm. 

Như đã nói lúc đầu, những trạng thái biến đổi của tâm đều tác động lên sức khoẻ của cơ thể. Một nhà nghiên cứu khoa học kiêm bác sỹ Mỹ, Paul Pearsall, phát biểu:

“Mỗi ý nghĩ cảm xúc đều đi kèm theo sự phóng thích dồn dập những hoá chất ở não, gây tác động và bị chi phối bởi hàng tỉ tế bào”.

Khi nhấn mạnh đến quan điểm sức khỏe có thể củng cố, cải thiện bằng cách chủ động những cảm xúc, trong tác phẩm Super- immunity (Siêu miễn nhiễm), bác sỹ Pearsall đã viết:

“Những cái không nhìn thấy như ý nghĩ và cảm xúc đều có thể gây bệnh tật và mang lại sức khoẻ tốt …

Mầm bệnh thường xuyên lảng vảng quanh ta nhưng không thâm nhập bám rễ được trừ phi cơ địa của ta tạo điều kiện thuận lợi. Cơ địa này chịu tác động từ ý nghĩ, cách nhận thức, lòng tự ái, sự cảm thụ,…”.

Bác sỹ U Aung Thein trong bài viết về Thiền Phật giáo với sinh học (Buddhist Meditation and Bioscience) đã giải thích rằng những cảm xúc bất ổn có thể làm đảo lộn sự cân bằng sinh học của cơ thể. Những hoá chất do cơ thể phóng thích là kết quả từ những cảm xúc này, chúng gây tác hại lên nhiều cơ phận như tuyến giáp, tuyến thượng thận, bộ tiêu hoá và cơ quan sinh sản.

Chẳng hạn sân hận làm phóng thích chất epinefrine lần lượt gây tăng huyết áp, tăng nhịp đập tim và đẩy mạnh sự tiêu thụ oxygen. Tình trạng bất ổn kéo dài hoặc lập đi lập lại thường xuyên sẽ đưa đến nhiều bệnh tật như loét tiêu hoá, chứng khó tiêu, bệnh tim mạch và thậm chí ung thư.

Qua những hậu quả của sân hận cùng những trạng thái bất ổn của thân và tâm, chúng ta phải hết sức ngăn chặn những cảm xúc khó chấp nhận này. Chúng ta xua tan lập tức bất cứ lúc nào chúng sanh khởi. Chúng ta phải quyết tâm mạnh mẽ hơn để điềm đạm và thư thái trong mọi tình huống.

Hãy nhìn vào gương

Một người giận dữ là một người rất xấu xí. Nếu bạn nhìn thấy khuôn mặt nhăn nhó của mình trong gương khi tức tối, chắc bạn cũng không thể nào yêu mến nổi chính mình. Có lẽ tất cả chúng ta nên mang theo một cái gương soi nhỏ trong túi áo phòng khi những lúc bực tức, cau có, ta có thể nhanh chóng nhìn ngắm chính xác hình ảnh chính mình. Đó cũng là một pháp tức thời chế ngự con quỷ trong lòng ta.

Ngay cả một cô gái xinh đẹp nhất cũng trở thành khó coi sau một thời gian cô ấy có tính khí dễ nổi cáu, dễ bực tức. Những nếp nhăn xuất hiện sớm, lúc nào cũng nhíu mày cau có hoặc sẽ có một loại nét xấu làm hư đi toàn bộ vẻ xinh đẹp, sự khó ưa sẽ khiến mọi người tránh xa. Trái lại, kẻ luôn mỉm cười, dễ chịu, ít khi nào bực mình là người đáng yêu mến thực sự. Người này đi đâu cũng được mến chuộng và chào đón.

Người ta cho rằng, kẻ nào trong kiếp hiện tại mang dáng vẻ xấu xí là do kiếp trước tính tình nóng nảy hay sân hận. Luật nghiệp báo cho rằng, ai có tâm ý sân hận oán thù, nếu tái sanh vào cõi người sẽ có hình thù xấu xí, thậm chí ghê tởm. Vì vậy, là Phật tử, chúng ta tin luật nghiệp báo, cũng là luật nhân quả, chúng ta nên tránh sân hận. Nếu lâm vào tình huống không tức không được, thì hãy nghĩ nghiệp báo xấu có thể xảy đến với mình, do vậy ta sẽ nhanh chóng bình tĩnh trở lại. 

Nhớ rằng chúng ta làm chủ hành động của mình

Chúng ta làm chủ hành động của mình. Dù tạo tác bất cứ việc gì, ta cũng phải gánh chịu hậu quả việc mình làm. Khi giải thích về luật nghiệp báo, đức Phật thuyết: “Này các Tỳ kheo, chúng sanh làm chủ hành động tạo tác của mình đồng thời cũng là vật thọ tạo.

Hành động tạo tác là nhân, đưa đến chúng sanh là quả. Chúng sanh liên quan đến hành động tạo tác của mình. Hành động tạo tác là nơi nương tựa của chúng sanh. Dù tạo tác bất cứ điều gì, thiện hoặc ác, chúng sanh đều trở thành vật thọ tạo của chính mình”.

Xét như thế, ta cảm thấy thương xót những kẻ có tính khí sân hận, oán thù. Tại sao? Bởi vì tức giận, căm ghét nên kẻ đó tích tụ đầy nghiệp ác mà một ngày nào đó phải gánh chịu quả báo ác. Nếu không sửa đổi hành vi của mình, thậm chí kẻ đó có thể đi vào cảnh giới địa ngục. Nếu ta đáp trả lại kẻ đó cũng bằng lòng căm hận, oán hờn, thì ta cũng chẳng hơn gì kẻ đó. Cả hai đều đi vào cảnh giới địa ngục.

Khi quán về luật nghiệp báo, chúng ta sẽ bình thản lại, vì luật nghiệp báo buộc chúng ta phảt tự chịu trách nhiệm. Mỗi cá nhân chúng ta phải chịu trách nhiệm hành động tạo tác của chính mình. Kẻ làm ác phải chịu đau khổ khi nghiệp quả chín muồi. Về phần chúng ta là phải xua tan sân hận và những thái độ tạo tác bất thiện.

Xét đến điểm tốt của kẻ khác

Ai cũng có vài điểm tốt. Nếu ta xét đến điểm tốt của người khác, ta sẽ không giận họ. Trước đây, bằng cách này cách nọ, họ đã giúp ta. Khi nhớ những tính tốt của họ và những gì họ giúp ta trước đây, lòng ta sẽ dịu lại và tỉnh táo. Nên nhớ rằng trên đời này không có ai hoàn hảo, và chính bản thân ta cũng có những sai lầm. Đức Phật đã dạy tìm lỗi lầm của mình để sửa chữa tốt hơn là dò xét lỗi lầm của người khác. Thấy một ngàn lỗi của người không bằng thấy một lỗi của chính mình.

Kiềm chế

Khi giận, ta không nên hành động hay nói năng gì, vì trong tâm trạng đó, những gì ta nói hoặc làm đều vụng về, thô lỗ, gây ra những tai hại mà sau này ta phải hối tiếc. Thậm chí khi sự việc đã trôi qua, ta có ngỏ lời hối hận đi nữa thì cũng đã quá muộn, vì hậu quả tai hại đã hình thành rồi. Kẻ bị thương tổn không thể thay đổi thành kiến dành cho ta.

Do đó, khi sân hận sanh khởi, ta nên kiềm chế, lặng im bất động như một khúc gỗ. Ta chỉ nói hoặc hành động sau khi đã xua tan sân hận. Vì thế, ta chỉ hoạt động trở lại khi tâm lắng dịu và bình tĩnh. Bằng cách đó, những gì ta làm sẽ trở nên tốt đẹp và không để lại sự hối tiếp về sau.

Ú Không ai thoát khỏi lời trách mắng

Có một lần Phật bảo một vị Samôn tên Atula: “Này Atula, không phải chỉ có hôm nay mà thôi; mà từ xa xưa, điều này đã xảy ra rồi, im lặng bị trách mắng, nói nhiều cũng bị trách mắng, nói khiêm cung cũng bị trách mắng, trên thế gian này chẳng ai là không bị trách mắng”.

Nếu chịu khó quan sát lấy bản thân mình, ta thấy điều đó hoàn toàn đúng: không ai trên cõi đời này thoát được lời trách mắng. Dù chúng ta cố gắng cách nào đi nữa, thì kẻ khác vẫn tìm ra lỗi lầm của chúng ta. Vậy, hiểu được bản chất của cuộc sống, ta không nên bực mình hoặc tức giận khi bị trách mắng. 

Tuy nhiên, điều chúng ta nên làm là xem xét lý do trách mắng. Nếu quả thực ta sai thì hãy bình tĩnh sửa đổi dần, nhưng nếu bị trách mắng oan, ta không cần nhọc tâm, ta giải thích lý do hành động đã làm và nguyên nhân trách oan.

Sau đó, ta không nên bận tâm đến lời trách mắng phi lý đó nữa. Ta nên tập tính bình thản và quán tưởng rằng, ngay cả đức Phật còn không thoát lời quở trách huống chi mình, chẳng hạn vào thời đại của đức Phật, Ngài bị chỉ trích về việc ăn thịt, bị vu khống về việc ăn nằm với nàng Cinca cùng vụ giết chết người phụ nữ lang thang.

Điều quan trọng là chúng ta làm những gì mình nên làm. Do đó, chúng ta sẽ không có lỗi vì rằng, chẳng có ai hiểu biết rõ ràng lại đi khiển trách chúng ta, trừ phi kẻ đó thiếu sáng suốt hoặc không hiểu rõ lý do ta hành động.

Điều này cũng đúng thôi, một vấn đề không thể tránh được trong đời sống, vì cố gắng mấy đi nữa, ta vẫn bị chỉ trích quở trách. Điều chúng ta cần là cố gắng làm những gì mình phải làm một cách khéo léo để tối thiểu hoá sự tác động của lời trách mắng. Sau đó, nếu vẫn còn bị chỉ trích thì hầu như chúng ta chẳng còn gì để làm nữa.

Tại sao chúng ta giận dữ?

Nếu tra xét vấn đề tại sao ta tức giận, ta sẽ nhận ra nguyên nhân là ta có bản ngã và nó phình to ra lúc ta sân hận. Ta khẳng định cái “tôi”, cái bản ngã, chính điều này khiến ta cảm thấy bị xem thường và tức tối.

Nếu ta không khẳng định cái “tôi” và hiểu rõ giáo lý vô ngã (anatta) của đức Phật, ta sẽ không cáu kỉnh, tức giận dù bị trêu tức thế nào đi nữa. Vào thời đại của mình, đức Phật đã nhiều lần bị trêu tức, bị thách thức, nhưng Ngài không khởi sân, không bao giờ đánh mất sự thanh thản của mình.

Trong kinh điểm chúng ta không bao giờ thấy đức Phật tức giận; ngược lại kinh nhấn mạnh đến đặc tính đoạn diệt sân hận của Ngài. Thậm chí lúc đức Phật quở trách nghiêm khắc một vị Sa môn hoặc một đệ tử sai quấy, Ngài thể hiện một cách nhẹ nhàng, bình thản, không một chút sân nào.

Tương tự, các vị A la hán chứng quả giác ngộ cũng đoạn diệt sân hận. Chẳng hạn Ngài Xá Lợi Phất (Sariphutta), đại đệ tử của Phật, nổi tiếng về lòng kham nhẫn vô biên và khiêm tốn. Một hôm, có một số người ngợi khen đức tính cao quý của Ngài Xá Lợi Phất, tuyên dương:

“Vị Trưởng lão cao quý của chúng ta có lòng kham nhẫn vô biên đến độ bị lăng mạ, đánh đập mà Ngài không có vẻ gì sân hận cả”.

Một vị Bà la môn không tin điều này, đã hỏi vặn lại: “Người này là ai mà chẳng sân hận?”, bèn sắp đặt để trêu chọc vị Trưởng lão. Một hôm, vị này tiến gần đến sau lưng Ngài Xá Lợi Phất rồi đấm mạnh vào lưng. Tôn giả Xá Lợi Phất khẽ nói:

“Chuyện gì thế?”,

rồi tiếp tục bước đi khất thực mà không ngoái cổ lại để xem. Ngay lúc ấy, vị Bà la môn cảm thấy hối hận, quỳ mọp dưới chân Ngài Xá Lợi Phất xin tha thứ. Vị Trưởng lão ôn tồn hỏi: “Xin lỗi chuyện gì?”. Vị Bà la môn hối hận đáp lời: “Vì muốn thử lòng kham nhẫn của Ngài, tôi đã đấm mạnh vào lưng Ngài”. “Không sao, tôi hoan hỷ”.

Vị Bà la môn bèn Ngài Xá Lợi Phất về nhà dùng cơm nhưng những kẻ trông thấy hành động của vị Bà la môn đều nổi giận muốn đánh đập vị này. Ngài Xá Lợi Phất ngăn cản họ lại bằng cách hỏi: “Kẻ bị đánh là quý vị, là tôi hay là ông ấy?”.

“Chính là Ngài thưa Trưởng lão.” “Vậy nếu chính tôi bị đánh thì ông ấy đã xin lỗi tôi rồi. Xin quý vị bỏ đi”. Bằng cách đó, Ngài Xá Lợi Phất giải tán được đám đông. 

Sự khiêm tốn của Ngài Xá Lợi Phất cũng vô biên như tính kham nhẫn của Ngài. Có một lần, một chú điệu 7 tuổi bước đến gần Trưởng lão Xá Lợi Phất và nhìn thấy y của Ngài không chỉnh tề. Hình như trong lúc lơ đễnh, góc y của Trưởng lão xệ xuống, khi chú điệu chỉ cho Ngài thấy. Thay vì bực mình, Ngài lập tức bước sang một bên sắp xếp lại y áo chỉnh tề rồi đứng trước mặt chú điệu, chắp tay khẽ nói: “Bây giờ đã chỉnh tề rồi, thưa sư phụ”.

Nhiều mẫu chuyện như thế về hành vi của bậc A la hán là nguyện vọng và cũng là bài học đối với chúng ta. Tại sao họ không còn bực dọc, cáu kỉnh nữa? Vì họ đã nhổ bật gốc rễ tất cả những trói buộc phát sinh từ ý niệm cái tôi hoặc bản ngã. Dù hữu hoặc vô ngã, họ không cảm nhận “chính ta bị xem thường” hoặc “chỉ là một chú điệu mới 7 tuổi mà dám sửa lưng ta, một Ngài Xá Lợi Phất, đại đệ tử của Phật!”.

Những ý nghĩ như thế không bao giờ có đối với Ngài Xá Lợi Phất vì Ngài đã thấm nhuần giáo lý vô ngã của đức Phật, đã nhổ bật gốc rễ tất cả sân hận và kiêu mạn.

Như thế, khi chúng ta còn tức giận, ta nên hiểu rằng vì mình vẫn còn khẳng định “cái tôi” hoặc bản ngã. Nếu lúc đó chúng ta quán chân lý vô ngã, rốt cuộc trong đó không có “cái tôi” thực. “Cái tôi” chỉ là một ý niệm, một từ ngữ theo thói quen, ta có thể bình tĩnh lại và không còn tức tối nữa. 

Thêm vào đó, ta xét nghĩ đến trường hợp Ngài Xá Lợi Phất ở cương vị một đại đệ tử của Phật, bằng cách nào Ngài vẫn thản nhiên ngay cả lúc bị sỉ nhục và trêu chọc thậm tệ. Quán tưởng như thế, ta có thể giữ cho mình không còn sân hận nữa.

Ai tức giận?

Vấn đề kế tiếp phải xem xét là “Ai tức giận?”, “Cái gì đang tức giận?”. Bản ngã? Cái tôi? Trong ý nghĩa tối hậu, hãy nhớ rằng cả bạn và kẻ mà bạn đang tức giận đều không thực có. Rốt lại, những cái chúng ta cho là mình chẳng qua chỉ là tâm và thân tứ đại cùng tiến trình sinh diệt.

Do đó, trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga) dạy chúng ta quán chiếu thân thể do nhiều phần hợp lại: “Giờ đây, cái gì đang tức giận bên trong bạn? Tóc? Lông? Móng tay hay nước tiểu?

Hoặc một trong các thứ đất, nước, lửa, gió cấu tạo thành tóc?

Phải chăng những tập uẩn (khandha) bên trong bạn đang tức giận, hoặc thọ uẩn, tưởng uẩn, sắc uẩn, thức uẩn nổi giận? Hoặc đó là nhãn căn?…”. Khi quán như thế này, cơn sân hận của chúng ta không tìm ra được cơ sở để tồn tại do đó sẽ tan biến.

Hoặc xét trên khía cạnh tất cả chúng ta đều cấu thành từ tâm thức và vật thể mà cả hai phần này thường xuyên biến đổi, nhất là tâm thức biến đổi rất nhanh, ý nghĩ sanh diệt chớp nhoáng. Trong một tia chớp hay một cái nháy mắt, hàng triệu ý nghĩ đã trôi qua.

Vậy thì cái gì tức giận? Tức giận ai? Cái tâm thức cùng vật thể tức giận trong nháy mắt đã trôi qua. Vô số ý nghĩ khác cùng vật thể biến đổi lại tiếp tục sanh khởi thế vào đó. Nhận thức trên khía cạnh này, cơn giân sẽ thoái lui. 

Chúng ta đều có quan hệ với nhau

Phật dạy, từ vô thỉ đến nay chúng ta lang thang mãi trong vòng luân hồi sanh tử bất tận đến nỗi tất cả chúng ta đều là quyến thuộc của nhau dưới hình thức này hoặc hình thức khác. Vì thế, Phật nói: “Này các Tỳ kheo, thật khó mà tìm được kẻ nào trong đời quá khứ chưa từng là mẹ, cha, anh, chị, em, con cái của các ngươi”. Vậy chúng ta không nên nuôi lòng sân hận với kẻ từng là quyến thuộc của ta trong nhiều kiếp quá khứ. Nghĩ khôn ngoan như thế, cơn giận của ta sẽ tan đi.

Tha thứ

Một trong những lý do sân hận của ta là ta không thể tha thứ và bỏ qua. Vì thế, ta dễ tức giận, và hậu quả là ta có xu hướng nuôi dưỡng niềm cay đắng, phẫn uất hoặc hận thù vì những đau khổ (thực tế hoặc tưởng tượng) đã gây ra cho ta.

Dù chúng ta có thể nghĩ rằng mình đã tha thứ, nhưng tận trong sâu thẳm của lòng mình, ta vẫn chưa thực sự hoàn toàn tha thứ. Một cách ý thức hoặc vô thức, ta vẫn còn tiềm ẩn nỗi cay đắng hoặc oán hận. Nếu ta biết bỏ qua, biết tha thứ thật sự và triệt để, ta sẽ sống một cách hạnh phúc, thoải mái hơn, không phải đeo đẳng gánh nặng oán hờn, tức tối v.v…

Tha thứ, chính xác là “tình thương dịu dàng và trìu mến nhất” và là “hương hoa thơm ngát trên gót chân dẫm đạp”, “giống như giấy nợ được huỷ bỏ, xé toặc và đốt cháy để vĩnh viễn không còn làm khổ kẻ khác”. Nếu chúng ta thực sự thương xót, nếu chúng ta tràn ngập lòng từ ái, nên hoàn toàn tha thứ bằng cả tấm lòng, vô điều kiện.

Chúng ta tha thứ cái gì? Tha thứ những lỗi lầm kẻ khác gây ra cho ta cũng như ta mong muốn người khác tha thứ những lỗi lầm mà ta gây cho họ. Chúng ta hoàn toàn không trả thù, cố nén cơn giận, không nói hoặc làm bất kỳ điều gì tổn thương hoặc trêu tức kẻ đã lầm lỗi với ta. Chúng ta tha thứ, không nuôi dưỡng mối ác cảm hoặc lòng thù nghịch và hiểu rằng tất cả chúng ta, ai cũng có khuyết điểm và sai lầm.

Do đó, khi tha thứ kẻ khác cũng có nghĩa là tha thứ cho chính mình, vì đôi khi trong quá khứ ta cũng từng sai lầm và hiện ta cũng khó mà tha thứ cho chính mình. Chúng ta đau khổ vì ăn năn, hối hận. Sự hối hận này khiến ta thống khổ và tâm trạng bất an.

Đức Phật khẳng định rằng, điều mà chúng ta nên làm không phải là than vãn, hối tiếc những việc đã qua mà là không lập lại lỗi lầm và sửa đổi được những gì còn có thể sửa. Chúng ta nên bỏ đau khổ lại ra phía sau và đừng để những hồi tưởng hối hận thỉnh thoảng trở về hành hạ chúng ta.

Nếu hồi tưởng sanh khởi, ta nên nhận biết (thí dụ thực hành chánh niệm) và không nên cố gắng giải quyết nó. Dứt khoát không suy nghĩ vì hiểu rằng chẳng thể làm gì thêm được nữa ngoại trừ sửa chữa và không lặp lại lỗi lầm. 

Đôi khi ta lý tưởng hoá chính con người mình. Dẫu sao, ta cũng nên chấp nhận lỗi lầm rất người của chúng ta vì rằng tất cả chúng ta, không ai một sớm một chiều trở thành thánh nhân được. Thật là khó khăn để đi đến thành công, nhưng nếu chúng ta cố gắng kiên trì thì cuối cùng chúng ta cũng đến đích. Điều ta cần là sự kiên nhẫn, quyết tâm và bền chí.

Những lợi lạc của lòng từ ái

Khi nghĩ đến lợi lạc do lòng từ ái đem lại, ta sẽ không còn sân hận. Đức Phật khẳng định những ai hành trì quán tưởng lòng từ ái bi mẫn sẽ đạt được 11 điều lợi lạc: dễ ngủ, tỉnh dậy tươi tắn, không ác mộng, được quý mến bởi chúng sanh cõi người và chúng sanh không thuộc cõi người, được các thiện thần phò trợ, lửa, độc, dược, binh khí không làm hại được, dễ định tâm, nét mặt thanh thản, giờ lâm chung sáng suốt ra đi nhẹ nhàng như một giấc ngủ, nếu không đạt được quả vị A la hán sẽ được tái sinh ở cõi trời Phạm Thiên thượng đẳng.

Ta sẽ bàn luận thêm về những lợi lạc này ở phần thực hành quán tưởng lòng từ ái. Tóm lại, sự lợi lạc này rất hấp dẫn và đủ sức khiến ta dập tắt cơn sân hận mà bình tĩnh lại. Nói cách khác, nếu chúng ta nhượng bộ cơn sân hận, ta sẽ không được hưởng những lợi lạc này. Do vậy, sự cám dỗ của lợi lạc giúp ngăn chặn để chúng ta không bị sân hận đè bẹp.

Tặng quà

Trong vài trường hợp, ta có thể tặng quà. Chẳng hạn, như có người thân thích và hay nói xấu ta; trong trường hợp này, thật dễ nổi tức và phản ứng lại, nhưng làm thế không phải cách của một đệ tử Phật. Phương châm đệ tử Phật là không bao giờ lấy oán trả oán.

Mà thay vào đó là lòng từ bi được đáp trả. Vì thế, ta có thể vượt lên sự thử thách và làm một chuyện khó làm nhất là mua quà tặng cho kẻ đó. Đây là dấu hiệu của hành động cao thượng và tấm lòng bao la, bất chấp ác ý của người, ta không nuôi dưỡng ý xấu.

Sau đó, ta cảm thấy bình thản vì biết rằng mình đã khước từ dính dấp vào bất kỳ sự xung đột nào hoặc sôi sục căm hờn oán hận, và thái độ cao quý của ta có lẽ sẽ khiến kẻ kia xúc động. Có thể họ không còn giữ lập trường chống đối ta, thậm chí còn trở nên thân thiện hơn nữa! Vì thế, việc tặng quà có thể tạo ra điều kỳ diệu và cũng là điều đáng để cho chúng ta xem xét trong vài tình huống nào đó.

Kết luận

Đến đây, chúng tôi chấm dứt phần này. Qua các vấn đề nói nói ở trên, chúng tôi đã thảo luận khá nhiều về thái độ áp dụng vào việc kiềm chế sân hận và giữ bình thản. Chúng tôi mong rằng độc giả đã đọc kỹ phần này sẽ được giải toả nhiều hơn từ trước đến giờ để nhắm tới từ bỏ sân hận và gieo rắc tình thương. Trong phần kế tiếp, chúng ta sẽ thảo luận sự thực hành quán tưởng lòng từ bi.

Tình thương là niềm vui của thiện nhân,
Điều kỳ diệu của trí tuệ,
Sự nhiệm màu của thần thánh.

Tác giả: Tỳ Khưu Visuddhacara

Không có nhận xét nào: