Thứ Tư, ngày 25 tháng 9 năm 2013

Giải thích các hiện tượng Tâm linh

Thời gian gần đây, ở nước ta rộ lên thông tin về những hiện tượng Tâm linh như: ngoại cảm (gồm thần giao cách cảm, thấu thị, tiên tri và hậu tri), viễn di sinh học hay tác động của tinh thần lên vật chất (chẳng hạn bẻ cong thìa bằng ý nghĩ) và các hiện tượng liên quan với sự tồn tại sau cái chết (như kinh nghiệm cận kề cái chết, xuất hồn hay thoát xác, luân hồi, ma nhập…). Thực ra đây là những hiện tượng thuộc về những hiện tượng đặc biệt trong tâm lý con người. Chúng ta thường nghĩ rằng đây là những hiện tượng mà nền khoa học đương đại chưa giải thích được. Vì vậy, những sự giải thích theo lối dân gian thiếu cơ sở có cơ hội nổi lên và là vùng đất màu mỡ cho sự phát triển của mê tín dị đoan.

Do vậy việc giải thích các hiện tượng Tâm linh nói trên là một nhu cầu hết sức bức thiết hiện nay. Tuy vậy việc giải thích cũng có nhiều đường giải thích khác nhau. Có những cách giải thích mang tính khoa học có cơ sở, có logic và cũng có nhiều cách giải thích thiếu cơ sở mang màu sắc huyền bí, mê tín dị đoan. Trước hết chúng ta cần phải xác định rằng: các hiện tượng Tâm linh là có thể có thật và là những hiện tượng mang tính thực nghiệm. Nhưng sự giải thích cho các hiện tượng đó theo lối dân gian thì lại hoàn toàn không có cơ sở. Người ta thường bị nhầm lẫn giữa các hiện tượng mà mình trải nghiệm với việc giải thích những sự hiện đó. Cái này có tức là cái kia đúng. Trên thực tế lại hoàn tòan không phải như vậy. Các nhà Tâm linh có thể có các năng lực đặc biệt, nhưng điều đó không có nghĩa là họ hiểu rõ về các năng lực của mình, hiểu rõ về các hiện tượng đặc biệt xảy đến với mình. Và do vậy không có nghĩa là vì họ có các năng lực đó, nên sự giải thích của họ là đúng với sự thật khách quan.

Trong bài viết này, tôi xin trình bày quan điểm cá nhân của mình trong việc giải thích các hiện tượng Tâm linh dựa trên lý thuyết về cơ thể con người mà tôi xây dựng trên nền tảng của kiến thức khoa học hiện nay như kiến thức về vô tuyến, máy tính, mạng internet không dây (wifi), sóng ánh sáng, vùng khả kiến... cộng thêm một chút suy luận và trải nghiệm của cá nhân. Mời các bạn cùng theo dõi. [1]

I. Những kiến thức nền tảng

1. Về thế giới

a. Vật chất không nhìn thấy được.

Chúng ta thường quan niệm rằng: cái gì mình nhìn thấy được là có, còn không nhìn thấy được là không có. Mặc dù nền vật lý hiện đại đã có những bước tiến vũ bão trong việc khám phá vật chất. Nhưng ngày này, trong vô thức, đa số chúng ta vẫn có những ý nghĩ cho rằng: vật chất là những vật thể mà chúng ta có thể nhìn thấy được, cầm nắm được. Còn cái gì mà mắt ta không nhìn thấy được, không cầm nắm được thì không phải vật chất.

Đây là một quan niệm hết sức sai lầm. Bởi vì vật chất như chúng ta quan niệm ở trên là “vật chất” được cấu tạo từ các “hạt chất” có khối lượng nghỉ khác không. Ngoài ra còn có một loại vật chất khác là “Trường”_là một loại vật chất có khối lượng nghỉ bằng không. Điều đó có nghĩa là ánh sáng (trường điện từ lan truyền trong không gian) cũng là vật chất. Nhưng chúng ta không thể sờ mó hay cần nắm ánh sáng và không phải mọi loại ánh sáng chúng ta đều có thể nhìn thấy được. Thực tế, các nhà vật lý đã khẳng định rằng: vùng ánh sáng mà con người nhìn thấy được (vùng khả kiến) chiếm một phạm vi rất nhỏ so với vùng ánh sáng có thể tồn tại. Cụ thể là: Vùng ánh sáng nhìn thấy được gồm những tia có bước sóng trong khoảng từ 400nm đến 700nm – cũng có một số tài liệu cung cấp giá trị khác về vùng khả kiến ví dụ như (380nm – 740nm) hay (400nm – 750nm)… nhưng những con số đó không quá quan trọng, ở đây ta chỉ cần nhận ra một sự thật là vùng ánh sáng nhìn thấy được vô cùng nhỏ bé so với vùng ánh sáng không nhìn thấy được.


Trong một số trường hợp đặc biệt, ta có thể nhìn thấy được ánh sáng trong vùng này mà lúc bình thường không nhìn thấy được. Ví dụ: sử dụng máy quay phim, chụp hình có thể giúp ta làm “hiện hình” một số loại sóng ánh sáng mà mắt thường không trực tiếp nhìn thấy được.

Tóm lại ta thấy có một phạm vi rất lớn của vật chất dưới dạng ánh sáng trong điều kiện thông thường ta không thể nhìn thấy được. Vùng này lớn hơn rất nhiều so với vùng vật chất có thể nhìn thấy được.

b. Vật chất nguyên thủy (hay Bản thể của Vũ trụ)

Thế giới này được cấu tạo nên bởi các phân tử. Các phân tử lại do các nguyên tử hợp thành. Và cấu tạo của nguyên tử, như mọi người đều biết là do các hạt cơ bản tạo thành. Còn các hạt cơ bản chúng do cái gì tạo thành? Và vật chất đầu tiên, hay còn gọi là Vật chất nguyên thủy, cấu tạo nên tất cả các vật chất khác nhau, là gì? Đây là những câu hỏi, mà bộ môn vật lý đang tìm kiếm, và cho đến nay, vẫn chưa có được một câu trả lời chính xác.

Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta không thể biết được, về vấn đề này. Thực ra, những kiến thức của bộ môn vật lý hiện nay, đã đủ cơ sở, để đi đến một kết luận chính xác về chúng. Chỉ có điều, để làm được vấn đề này, phải có một cuộc cách mạng, trong sự nhận thức của chúng ta về Vật chất nguyên thủy. Sở dĩ các nhà vật lý ngày nay chưa tìm được ra Vật chất nguyên thủy, là bởi vì họ đang đi tìm Vật chất nguyên thủy theo ý của họ, theo những đặc điểm mà họ quy định ra cho nó, bắt buộc nó phải có. Nhưng trong thực tế, Vật chất nguyên thủy đích thực, lại không có những đặc điểm, mà họ đã quy định cho nó. Vì vậy nó không được họ công nhận mà thôi. Điều này giống như một người ở miền Bắc, vào trong Nam, và anh ta đi kiếm trái bòn bon. Anh ta chưa từng nhìn thấy trái bòn bon, cũng chưa từng được nhìn thấy ảnh của nó. Anh ta chỉ được nghe đến cái tên của nó, và một vài đặc điểm, được mô tả một cách sơ sài của nó, mà thôi. Sau đó, phát sinh lòng hâm mộ, và khi có dịp vào Nam, anh ta đã đi tìm nó để thưởng thức. Đi vào chợ, anh ta tìm mãi, tìm mãi,... mà vẫn không thấy trái bòn bon đâu cả. Có người đã chỉ trái bòn bon cho anh ta. Nhưng anh ta không tin, không chấp nhận, vì anh ta không thấy nó giống với những gì, mà anh ta đã tưởng tượng về nó trước kia. Cũng vậy, ngày nay các nhà vật lý tự mình tưởng tượng ra những đặc điểm, mà họ cho là Vật chất nguyên thủy phải có. Họ không thể chấp nhận Vật chất nguyên thủy, mà lại không có những đặc điểm đó, những đặc điểm mà họ đã gán cho nó. Cho nên dù đã tìm ra, họ cũng không biết đó chính là Vật chất nguyên thủy. Họ vẫn tiếp tục đi tìm, tìm mãi...

Qúa trình đi tìm vật chất nguyên thuỷ là quá trình chia tách vật chất đến các phần tử vật chất nhỏ nhất, không do các phần tử nhỏ hơn hợp thành. Theo kết quả của vật lý hiện nay, cứ chia tách vật chất đến cùng, thì ta có các hạt cơ bản. Nhưng cái gì cấu tạo nên các hạt cơ bản?

Vấn đề ở đây là danh từ “hạt” được hiểu theo nghĩa như thế nào?

Trong nghĩa cổ điển thì “hạt” là một khối vật chất choán chỗ trong một khoảng không gian có thể tích nào đó khác không. Và khi hạt di chuyển từ điểm A đến điểm B trong không gian, nghĩa là: nó là sự di chuyển của khối vật chất đó. Còn “hạt” cơ bản ở đây (hạt lượng tử) lại không phải được hiểu theo nghĩa như vậy. Trong sự di chuyển của hạt cơ bản từ điểm A đến điểm B, ở đây không có sự di chuyển của vật chất, mà đó là sự lan truyền giao động của một môi trường truyền sóng xung quanh vị trí cân bằng. Trong “hạt cổ điển” thì có giới hạn, có sự phân cách, có sự gián đoạn của vật chất. Còn trong hạt cơ bản thì không có giới hạn, không có sự phân cách, không có sự gián đoạn thực sự, của vật chất với nhau. Môi trường truyền sóng là một môi trường liên tục thống nhất và đồng nhất với nhau. Nó không do các phần tử nhỏ hơn hợp thành, mà nó là một cá thể đơn nhất, không sanh diệt, không thay đổi, vvv...

Vậy Vật chất nguyên thủy đó là gì?

Đó chính là môi trường truyền sóng điện từ, và các loại sóng của các hạt cơ bản khác. Ngày nay nó được biết đến dưới cái tên “Chân không vật lý” hay “Vacuum”. Vật chất nguyên thủy là một vật thể, là một “hạt” vật chất duy nhất tồn tại trong toàn thể vũ trụ này. Nó là một môi trường vật chất liên tục, tuyệt đối đồng nhất, đồng chất, bao trùm khắp hết cả vũ trụ này. Trên nó không có vật nào lớn hơn, dưới nó không có vật nào nhỏ hơn, chúng ta không thể chia tách nó ra được. Điều này cũng giống như chúng ta ở trong nước, thì không thể chia tách nước ra được. Nó như là một cái sân khấu, trên đó diễn ra các quá trình hoạt động vật lý khác nhau. Các hạt cơ bản, chỉ là những “lượn sóng” trong đó. Mối quan hệ giữa các hạt cơ bản với Vật chất nguyên thủy này, cũng tương tự như mối quan hệ, giữa một lượn sóng đang di chuyển trên mặt nước, với chất nước vậy. Các cấu trúc vật chất khác nhau như nguyên tử, phân tử, tế bào, các cơ thể sống, núi non, sông hồ, biển cả, cho đến các thiên thể, các hệ mặt trời, các thiên hà vvv đều chỉ là những cụm sóng, do các “lượn sóng” cơ sở - là các hạt cơ bản - kết tụ lại mà thành, chứ không phải là gì khác. Nghĩa là tất cả chúng, từ các hạt cơ bản cho đến các dải ngân hà, đều chỉ là những dạng biểu hiện khác nhau, trong những khu vực không gian và thời gian khác nhau, của Vật chất nguyên thủy mà thôi. Ở đây, không phải là Vật chất nguyên thủy cấu tạo nên hạt cơ bản, mà chính hạt cơ bản là biểu hiện của Vật chất nguyên thủy, trong một khu vực không - thời gian nào đó. Và như vậy, Vật chất nguyên thủy, không phải là phần tử vật chất nhỏ nhất, cấu tạo nên vật chất. Mà ngược lại, nó là phần tử vật chất lớn nhất, bao trùm lên tất cả.[2]

Từ cuối thế kỷ 19 các nhà vật lý đã đề cập tới môi trường truyền sóng ánh sáng này và gọi nó là Ether. Sau hai thí nghiệm âm nổi tiếng của Michelson-Morley và sự ra đời của thuyết tương đối củaEinstein thì Ether không còn được quan tâm đến nữa. Nhiều người cứ nghĩ rằng thuyết tương đối đã bác bỏ sự tồn tại của Ether. Đây là một suy nghĩ sai lầm. Thực ra thuyết tương đối không hề bác bỏ sự tồn tại của Ether, mà nó chỉ bác bỏ sự tồn tại của ngọn gió Ether mà thôi.

“Anhxtanh nói, đơn giản chỉ là không có ngọn gió ête nào cả. Ông không nói rằng không có môi trường ête, nếu tồn tại cũng không có ý nghĩa gì khi đo chuyển động đều. (Những năm gần đây nhiều nhà vật lý nổi tiếng đã đề nghị khôi phục lại thuật ngữ ête, dù rằng lẽ đương nhiên không mang ý nghĩa cũ của hệ thống đọc số bất động).”[3]

Thực ra sự tồn tại của Ether là có thật, nhưng nó không giống với những mặc định của các nhà vật lý gắn cho nó cho nên họ không tìm ra được mà thôi. Hiện nay người ta không dùng khái niệm Ether mà dùng khái niệm “chân không vật lý”-Vacuum để nói về vấn đề này. Tuy nhiên khi dùng thuật ngữ Vacuum thì các nhà vật lý lại bị nhầm lẫn từ Vacuum – Ether với tư cách của một môi trường truyền sóng ánh sáng sang Vacuum với tư cách là khoảng không gian trống rỗng - là vùng không gian mà ở đó Vacuum – Ether đang ở trạng thái cân bằng, không nổi sóng.

Thực tế thì chính Vacuum – Ether là môi trường truyền sóng, nó chứa đựng trong mình mọi loại vật chất và là Bản thể của Vũ trụ.

c. Bản chất của vật chất (Vật chất hay hiện tượng?)

Vật chất theo quan niệm của chúng ta từ xưa tới nay, về thực chất, không phải là vật chất thực - tức là sự vật. Bởi vì nó luôn luôn biến đổi không ngừng theo thời gian, nghĩa là : nó chỉ là hiện tượng mà thôi. Để thấy rõ vấn đề này, chúng ta hãy tìm hiểu về mối quan hệ, và sự khác nhau giữa sự vật và hiện tượng. Chúng ta hãy tạm coi các hạt cơ bản, nguyên tử, phân tử, đất, đá, núi non, biển cả, người, vật, cho đến các hành tinh là các sự vật. Chúng ta thấy: các sự vật là những pháp có cấu trúc vật chất. Và chúng ta có thể nắm bắt, sở hữu được chúng. Ngược lại, các hiện tượng như: sấm chớp, gió, mưa, dòng nước, sự lăn và sự đứng im của viên bi, các cảm xúc, cảm giác, hiểu biết, nhận thức, là những pháp không có cấu trúc vật chất. Và chúng ta không thể nắm bắt, sở hữu được.

Quan sát kỹ ta thấy: các sự vật và hiện tượng luôn luôn đi đôi với nhau. Ở đâu có sự vật, là ở đó có hiện tượng, và ngược lại. Sự vật tồn tại, là luôn luôn tồn tại trong những trạng thái vận động khác nhau (đứng im cũng là một trạng thái vận động). Không thể có sự vật tồn tại một cách không không, rời ngoài vận động được. Các dạng vận động khác nhau của sự vật, và các biểu hiện khác nhau của nó (các dạng vận động), chính là các hiện tượng. Và vì thế: cũng không thể có sự tồn tại của hiện tượng bên ngoài sự vật được. Chính mối quan hệ gắn bó khắng khít này, giữa sự vật và hiện tượng, trong một số trường hợp đặc biệt, đã tạo nên cho ta ảo giác, dẫn đến một nhận thức sai lầm, là sự vật cấu tạo nên hiện tượng.

Trường hợp thứ nhất: chất nước cấu tạo nên dòng nước.

Đây là một nhận thức hoàn toàn sai lầm. Bởi vì nếu ta xét một “phân tử nước” trong dòng nước đang chảy đó, ta không thể nói: “phân tử nước” cấu tạo nên “sự di chuyển của phân tử nước” đó được. Mà ta chỉ có thể nói rằng: hiện tượng di chuyển của “phân tử nước” này, là một trạng thái đang vận động của nó. Cũng vậy: dòng nước, thực chất là dòng di chuyển của tất cả các “phân tử nước” trong đó, theo một hướng với nhau. Nó là biểu hiện sự vận động chung của tất cả các “phân tử nước” mà thôi. Và ta không thể nói là nó do các “phân tử nước” cấu tạo nên đuợc.

Trường hợp thứ hai: ảo tưởng về một khối nước cố định đang di chuyển trên mặt nước.

Quan sát một lượn sóng lan truyền trên mặt nước giữa hai bản phẳng song song.


Ta thấy dường như có một khối nước cố định di chuyển trên mặt nước theo phương truyền sóng vậy. Theo như vậy thì khối nước này là một sự vật, được cấu tạo bởi chất nước. Nhưng thực ra không phải vậy, chẳng có một khối nước cố định nào đang di chuyển trên mặt nước cả. Đó chỉ là hiện tượng sóng mà thôi. Nó là hiện tượng lan truyền của một lượn sóng trên mặt nước.Nhưng nói như vậy không có nghĩa là ta phủ nhận hoàn toàn không có một khối nước nào tồn tại trong lượn sóng đó. Tại bất cứ một thời điểm nào trong quá trình truyền sóng, ta đều có thể tìm thấy được một khối nước nhất định trong lượn sóng đó.

Vậy thực chất vấn đề ở đây là gì?

Đó là một sự thay thế tuần tự, liên tục không gián đoạn (trơn) của các khối nước giống nhau vào nhau. Mỗi một khối nước chỉ tồn tại tức thời một cách tuyệt đối (tức là tồn tại trong khoảng thời gian ), liền ngay đó là một khối nước khác thay thế vào, rồi cứ thế tiếp tục,... không ngừng. Khi một khối nước này thay thế khối nước trước thì nó lệch đi một đoạn tương ứng. Do sự thay thế là trơn, nên sự dịch chuyển của nó cung là trơn (Chính điều này tạo ra cho ta ảo giác về sự di chuyển của một khối nước cố định trên mặt nước). Sự thay thế lẫn nhau của các khối nước đó, chính là hiện tượng sóng. Như vậy sự vật ở đây là các khối nước tồn tại tức thời tuyệt đối (tức là tồn tại trong khoảng thời gian ).Còn hiện tượng là sự thay thế lẫn nhau liên tục của chúng. Ta không thể nói rằng:các khối nước cấu tạo nên sự thay thế đó đuợc. Còn một khối nước cố định đang di chuyển trên mặt nước, chỉ là ảo giác của ta do sự thay thế tuần tự, liên tục không gián đoạn của các khối nước giống nhau vào nhau mà thôi. Thực chất không có một khối nước cố định nào tồn tại cả.

Trên thực tế, một cách tuyệt đối thì tất cả các sự vật như hạt cơ bản, nguyên tử, phân tử, đất, đá, núi non, biển cả, người, vật, cho đến các hành tinh,... đều chỉ là các hiện tượng mà thôi.

Thật vậy:

Tất cả các đồ vật lớn nhỏ, kể cả cơ thể người đều chỉ là những dòng chảy của các hạt cơ bản. Cụ thể là chúng luôn luôn hấp thụ các hạt cơ bản từ môi trường bên ngoài vào, và bài tiết, bức xạ,... các hạt cơ bản khác từ chúng ra môi trường bên ngoài. Mà một dòng chảy của các hạt cơ bản như vậy, thì có khác gì dòng chảy của các hạt nước đâu? Làm sao mà ta có thể cho đó là sự vật đuợc, mà phải nói là hiện tượng mới đúng.

Sâu xa hon nữa, ngay bản thân các hạt cơ bản, là thành phần cấu tạo nên các dòng chảy đó, cũng chỉ là hiện tượng sóng mà thôi. Cũng giống như ví dụ về lượn sóng nước ở trên: Trong quá trình tồn tại của hạt cơ bản đó, ta chẳng thể tìm thấy một hạt cơ bản cố định nào di chuyển trong không gian và tồn tại trong thời gian. Mà ta chỉ có thể tìm thấy một hiện tượng là sự thay thế tuần tự, liên tục không gián đoạn (trơn) của các phần Bản thể - “môi trường truyền sóng” - khác nhau rời khỏi vị trí cân bằng tĩnh của chúng, mà thôi. Tất nhiên, tại một thời điểm tức thời nào đó, trong quá trình xảy ra sự thay thế đó, ta luôn luôn tìm thấy một phần “Bản thể” cố định rời khỏi vị trí cân bằng. Nhưng ta không thể nói là phần “Bản thể” đó cấu tạo nên sự thay thế đó được. Như vậy: chẳng có cái gì gọi là hạt cơ bản cả. Mà chỉ có những biểu hiện trong những khoảng không gian và thời gian khác nhau của cùng một “Bản thể” mà thôi.

d. Mối quan hệ giữa Bản thể và Hiện tượng

Có hai loại hiện tượng diễn ra trong thế giới này. Đó là “hiện tượng thực” và “hiện tượng biểu kiến”. Hiện tượng thực là những hiện tượng thực sự xảy ra trong thế giới khách quan bao gồm các hạt cơ bản và các cấp độ tập hợp khác nhau của nó. Hiện tượng biểu kiến là những hiện tượng được ghi nhận lại qua các máy đo và các giác quan con người như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nó chính là sự phản ánh của hiện tượng thực vào trong các máy đo và giác quan con người.

Để tìm hiểu về mối quan hệ giữa bản thể và hiện tượng ta sẽ tìm hiểu về 2 mối quan hệ sau:

- Bản thể và hiện tượng thực.

- Hiện tượng thực và hiện tượng biểu kiến.

Mối quan hệ giữa Bản thể và hiện tượng thực đã được bàn tới trong mục “Bản chất của vật chất” ở trên. Ở đây chúng ta sẽ tìm hiểu về mối quan hệ giữa hiện tượng thực và hiện tượng biểu kiến. Hiện tượng biểu kiến có 2 loại chính là hiện tượng được ghi nhận qua các dụng cụ đo và hiện tượng được ghi nhận qua các giác quan của con người. Nó phản ánh các hiên tượng thực là các hiện tượng sóng thành các hình ảrh, âm thanh, mùi, vị, cảm giác... qua các giác quan và các hình ảnh, âm thanh, đồ thị, con số.. qua các máy đo.

2. Về con người

a. Bản chất của thế giới mà con người nhìn thấy

Thế giới mà mỗi con người nhìn thấy không phải là thế giới thực (hiện tượng thực) mà đó là thế giới của những hiện tượng biểu kiến - là sự phản ánh của thế giới thực vào trong tâm thức con người qua cơ quan thị giác. Các hiện tượng biểu kiến này hiện ra trên một cái màn hình tâm thức 3D của mỗi con người. Bản chất của chúng không khác gì bản chất của những hình ảnh trong mơ chỉ khác về nguồn gốc của kích thích. Chúng ta nhìn và tương tác với thế giới bên ngoài qua cái màn hình tâm thức đó[4].

b. Thân thể con người

Chúng ta ai cũng biết: thân thể con người là một chỉnh thể thống nhất và được taọ thành từ các tế bào. Còn các tế bào thì lại được cấu tạo từ các nguyên tử và phân tử khác nhau. Tuy nhiên chúng ta cần phần biệt thân thể biểu kiến (là thân thể mà chúng ta vẫn nhìn thấy hàng ngày) và thân thể thực. Thân thể biểu kiến là sự phản ánh thân thể thực qua thị giác. Thân thể thực thì chúng ta không nhìn thấy một cách trực tiếp được.

Ở đây chúng ta xem xét về thân thể thực. Ta có thể phân nó ra làm hai phần: Phần thân thể vật chất và phần thân thể trường. Phần thân thể vật chất được cấu tạo từ các hạt cơ bản có khối lượng nghỉ khác không như electron, Notron, Proton... và các hạt nhỏ hơn. Phần thân thể dạng “trường” có tác dụng: kết nối các tế nào lại với nhau, kết nối các phân tử và nguyên tử trong các tế bào lại với nhau. Nó chính là nguồn năng lượng sống, có tác dụng thúc đẩy sự phân chia của các tế bào, sự phát triển của cơ thể. Về cấu tạo thì nó là tập hợp của rất nhiều trường điện từ khác nhau và luôn luôn được bức xạ vào môi trường xung quanh dưới dạng các sóng điện từ (ánh sáng). Do vậy ta có thể gọi nó là phần thân ánh sáng.

Tôi tạm phân ra làm hai phần thân thể này để gọi cho nó dễ phân biệt, chứ thực ra thì hai phần thân thể này không độc lập tách rời với nhau. Chúng ta có thể hiểu mối quan hệ giữa hai phần này giống như mối quan hệ của chì khi nó đang đông đặc từ thể lỏng sang thể rắn vậy. Lúc đó nó vừa có phần lỏng vừa có phần đã đông đặc. Phần chì đã đông đặc không phải đến từ bên ngoài mà nó là sự kết tụ của phần chất lỏng.

Cũng tương tự như vậy, phần thân thể vật chất xuất hiện là do sự kết tụ của các phần khác nhau trong thân thể ánh sáng. Nó xuất hiện từ trong phần thân thể ánh sáng và chịu sự chi phối của phần thân thể ánh sáng. Khi ta chết đi thì phần thân thể ánh sáng thoát ra khỏi thân thể vật chất, giống như chì lỏng thoát ra khỏi phần chì đã đông đặc không khác.

Thật là thiếu sót nếu chúng ta dừng lại ở đây. Vì còn một vấn đề nữa trong cấu trúc cơ thể cần phải làm rõ. Đó là phần vật chất đầu tiên làm nên hai cái thân này hay Vật chất nguyên thủy. Nó chính là BẢN THỂ hay CÁI THÂN ĐÍCH THỰC của mỗi con người. Như tôi đã phân tích trong mục Vật chất nguyên thủy ở trên, đó chính là Vacuum – Ether. Nó chính là cái môi trường truyền sóng của các hạt cơ bản. Các hạt cơ bản, chỉ là những “lượn sóng” trong đó. Mối quan hệ giữa các hạt cơ bản với Bản thể, cũng tương tự như mối quan hệ, giữa một lượn sóng đang di chuyển trên mặt nước, với chất nước vậy. Các cấu trúc vật chất khác nhau của cơ thể như nguyên tử, phân tử, tế bào hay toàn bộ cơ thể sống của chúng ta đều chỉ là những cụm sóng, do các “lượn sóng” cơ sở - là các hạt cơ bản - kết tụ lại mà thành. Cả vũ trụ này, bao gồm núi non, sông hồ, biển cả, cho đến các thiên thể, các hệ mặt trời, các thiên hà... về mặt bản chất cũng là tập hợp của các hạt cơ bản giống như cơ thể con người. Cơ thể con người và tất cả mọi vật trong vũ trụ này đều có chung một môi trường truyền sóng, bất khả phân ly. Nghĩa là tất cả chúng, từ các hạt cơ bản, cơ thể con người cho đến các dải ngân hà, đều chỉ là những dạng biểu hiện khác nhau, trong những khu vực không gian và thời gian khác nhau, của Bản thể mà thôi. Bản thể của mỗi con người và Bản thể của Vũ trụ là một.

c. Cấu trúc cơ thể con người

Cơ thể của mỗi người tương tự như một cái máy vi tính mà cấu trúc của nó gồm hai lớp máy vi tính: Máy tính lớp sơ cấp và Máy tính lớp thứ cấp[5].

Máy tính lớp thứ cấp

Chức năng: tiếp nhận và sàng lọc thông tin gửi đến máy tính sơ cấp đồng thời có thể can thiệp vào quá trình điều khiẻn các bộ phận đầu ra:

Cấu trúc:

- Đầu vô là các cơ quan thụ cảm như: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,

- Đầu ra: là các cơ quan hành động như chân, tay, miệng lưỡi, thân thể, các cơ quan hô hấp, tim mạch, bài tiết...

- Bộ xử lý: não bộ có chức năng, xử lý điều tiết các dòng xung điện có mang thông tin được gửi từ các cơ quan thụ cảm tới các vùng trên vỏ não.

- Bộ nhớ có chức năng ghi nhớ lịch sử hoạt động và các đường dẫn truyền của các xung điện đi từ cơ quan thụ cảm đến các vùng trên vỏ não (Tương tự như History của máy tính).

Máy tính lớp sơ cấp

Chức năng: giãi mã thông tin thành hình ảnh, âm thanh, mùi, vị.... và điều khiển sự hoạt động của các bộ phận đầu ra.

Cấu trúc:

- Đầu vô: là các vùng tiếp xúc trên vỏ não. Nó có thể nhận tin hiệu từ các xung điện trong các nơron thần kinh gửi đến võ não hoặc nhận tín hiệu trực tiếp của các sóng điện từ được truyền tới từ môi trường bên ngoài.

- Đầu ra: Là một cái “màn hình tâm thức 3D”, một cái “loa tâm thức”, các bộ phận tạo mùi, vị, cảm giác... và các cơ quan hành động như chân, tay, miệng lưỡi, thân thể, các cơ quan hô hấp, tim mạch, bài tiết...

- Bộ xử lý: Có chức năng xử lý thông tin.

- Bộ nhớ: Lưu giữ tất cả các thông tin được ghi nhận trong qúa trình sống của mỗi con người và các “chương trình phần mềm” điều hành và ứng dụng của cả 2 máy tính.

d. Phân thân ánh sáng của mỗi con người

Phần thân ánh sáng của mỗi người có cấu trúc dạng trường điện từ và là máy tính sơ cấp đóng vai trò vừa giải mã thông tin vừa lưu giữ mọi thông tin xuất hiện trong quá trình sống của mỗi con người.

Nhiều người nhầm lẫn phần thân thể ánh sáng này là “linh hồn”, thực ra không phải vậy. Nó cũng chỉ là vật chất mà thôi. Chức năng thì cũng giống như một cái máy tính điện tử không khác. Nó cũng là phần xác chứ không phải phần hồn gì cả[6].

e. Mạng internet sinh học toàn cấu

Tất cả các máy tính sơ cấp của mỗi người được kết nối wifi với nhau tạo thành một mạng lưới Internet sinh học toàn cầu. Do vậy máy tính này có thể đi sâu vào trong máy tính kia và truy cập thông tin, cài virut, thậm chí chiếm quyền điều khiển của nó. Việc kết nối wifi này, cơ thể chúng ta giống như là một cái máy thu phát sóng vô tuyến truyền hình (vừa là đài phát vừa là ti vi).

Về đời sống sau khi chết 

Khi con người chết đi: phần xác thân vật chất sẽ tan rã nhưng phần thân thể ánh sáng sẽ bức xạ ra môi trường bên ngoài và mang theo trong đó những thông tin về quá khứ của chúng ta. Khi đó lực liên kết các tế bào, các phân tử, nguyên tử với nhau không còn, thân thể sẽ phân hủy, tan rã. Nhưng thân ánh sáng này vẫn còn tồn tại và hoạt động một cách độc lập. Lúc này nó thu nhận tín hiệu đầu vô một cách trực tiếp không thông qua các cơ quan cảm thụ của phần máy tính thứ cấp. Thông tin vẫn được xuất ra ở đầu ra của chính nó như “màn hình tâm thức 3D”, “loa tâm thức”, các bộ phận tạo mùi, vị, cảm giác... Còn các đầu ra của phần máy tinh thứ cấp như chân, tay, miệng lưỡi, thân thể, các cơ quan hô hấp, tim mạch, bài tiết... thì lúc này không còn, nên họ không thể sử dụng nó để tác động vào thế giới vật chất thô (được cấu tạo từ vật chất có khối lượng nghỉ khác không). Nhưng họ vẫn có thể điều khiển cái thân ánh sáng của mình.

Vì cái thân này không nằm trong vùng ánh sáng có thể nhìn thấy được cho nên thông thường chúng ta không thể nhìn thấy được nó. Nhưng ta hoàn toàn có thể nhìn thấy được nó trong những trường hợp đặc biệt. Như ta có thể nhìn thấy nó qua các máy chụp hình, quay phim phù hợp, hoặc trong những trường hợp khai mở các giác quan tiềm ẩn của một số người.

Không phải bất cứ ai sau khi “chết” đi cũng sẽ tồn tại dưới cái thân này. Có những người sau khi chết đi sẽ tồn tại dưới cái thân này, nhưng cũng có nhiều người sau đó lại “nhập” vào một tế bào trứng ở giai đoạn thụ tinh và thúc đẩy tế bào đó phát triển thành một cái thân xác khác (hiện tượng này gọi là đầu thai).

Đặc biệt là những người sống trong thân ánh sáng này có thể nhìn thấy được nhau và giao tiếp với nhau và tạo thành những cộng đồng khác nhau.

II. Ứng dụng giải thích các hiện tượng Tâm linh. 

1. Hiện tượng đọc được suy nghĩ của người khác 

Khi ta suy nghĩ, bao giờ cũng phát sóng có mang thông tin của sự suy nghĩ ra xung quanh và ai cũng có thể bắt các làn sóng này được. Vấn đề là ở khâu “rà đài”. Giống như trong ti vi có rất nhiều đài phát khác nhau, và cái ti vi nào cũng có thể bắt được sóng của các đài phát đó. Nhưng tùy thuộc chủ nhân của cái ti vi có biết cách “rà đài” cho đúng với tần số của đài mà mình muốn xem hay không. Con người ta cũng vậy, ai cũng có khả năng “rà đài” cho cái “ti vi” của mình, vấn đề là có biết cách sử dụng khả năng này hay không mà thôi. Đối với người thông thường thì không biết đến khả năng này và cũng không biết cách sử dụng khả năng này. Nhưng có những người có thể do vô tình gặp tai nạn, hoặc do tập luyện mà phát hiện ra khả năng này và cách sử dụng nó thì họ hoàn toàn có thể thực hiện việc “rà đài” để bắt trúng tần số của sóng do suy nghĩ mà người khác phát ra. Khi đó những suy nghĩ của người kia hoặc là sẽ hiện ra trong đầu của họ, hoặc là họ sẽ nghe thấy như là người kia đang nói với họ, có âm thanh như là đang nói thật. Họ sẽ biết hết những gì mà người kia suy nghĩ. Điều này rất bình thường không có gì là huyền bí cả.

2. Hiện tượng nói chuyện với người chết 

Trước hết cần phải xác định một số điều là:

- Không phải ai chết đi rồi thì nhà Tâm linh cũng đều có thể nói chuyện được. Có một số người có thể nói chuyện được sau khi họ chết đi nếu họ tồn tại dưới dạng thân ánh sáng. Còn một số người không thể nói chuyện sau khi họ chết đi vì họ đã đi đầu thai vào một thân xác khác.

- Không phải những gì người chết nói đều đúng. Vì họ cũng như người bình thường có những điều họ biết và cũng có những điều họ không biết. Họ cũng thích nói giỡn, nói dóc... Họ thường biết rõ về thông tin trước khi chết, còn thông tin sau khi chết thì họ chỉ biết trong một giới hạn rất hẹp và có nhiều điều họ không biết.

Việc nói chuyện với người đã chết (thực ra là họ đang sống trong thân ánh sáng) đối với những người đã khai mở được khả năng của cái thân ánh sáng trong mình là điều bình thường. Lúc này cái máy tính sơ cấp của họ có khả năng sử dụng năng lực tiếp nhận tín hiệu gửi đến từ sóng mang thông tin một cách trực tiếp của nó. Và sau đó nó giải mã ra thành hình ảnh, âm thanh mà họ nhìn thấy được, nghe thấy được. Thực ra không phải là họ nhìn thấy người chết mà họ nhìn thấy hình ảnh được hiện ra trên màn hình tâm thức của mình. Những hình ảnh này đối với họ cũng thực như là những hình ảnh khác. Thông tin của những hình ảnh này được lưu giữ trong bộ nhớ của người chết và nó được phát ra rồi nhà Tâm linh thu nhận được.

Cũng có một số trường hợp, hoàn toàn không có người chết nào về nói chuyện cả. Nhưng do nhà Tâm linh có khả năng truy cập vào nơi lưu giữ thông tin, bộ nhớ của người chết và sau đó phóng chiếu ra thành hình của người chết về nói chuyện với họ. Trong trường hợp này người chết chỉ có thể nói về những điều đã xảy ra trước khi họ chết chứ không thể nói về những điều xảy ra sau khi họ chết. Khác với trường hợp có người chết về nói chuyện thật ở chỗ có nói về những thông tin mới xảy ra sau khi họ chết.

3. Thấu thị 

Bất cứ một vật thể gì bao giờ cũng có khả năng bức xạ sóng điện từ có mang thông tin của mình vào môi trường. Các sóng này có thể xuyên qua các loại vật chất khác nhau và truyền đến nhà Tâm linh. Nhà Tâm linh bắt được sóng này và giải mã ra thành hình ảnh hiện ra trên màn hình tâm thức của mình. Khi đó họ có thể nhìn thấy những vật thể đó dù mắt thường ta không nhìn thấy được.

Vùng đất chứa hài cốt và bản thân hài cốt là nơi lưu giữ rất nhiều thông tin về người chết. Các thông tin này liên tục được phát ra môi trường nhờ các sóng ánh sáng (nhìn thấy cũng như không nhìn thấy). Khi nhà Tâm linh bắt được các sóng này thì họ có thể nhìn thấy được hài cốt dưới những lớp đất đó.

4. Biết được chuyện trong quá khứ của người khác 

Việc biết được chuyện trong quá khứ của người khác khá dễ dàng với nhà Tâm linh. Vì mọi thông tin trong quá khứ của chúng ta đều được lưu giữ trong bộ nhớ. Nhà Tâm linh chỉ cần truy cập vào đó qua mạng internet sinh học và lấy nó ra là xong. Giống như những tay Haker vẫn thường dùng máy của mình đột nhập vào máy của người khác qua mạng internet và lấy cắp thông tin từ đó ra vậy thôi.

5. Bị điều khiển và bị vong nhập 

Cũng giống như một Haker xâm nhập vào máy tính của người khác qua mạng rồi chiếm quyền điều khiển cái máy đó, con người chúng ta cũng vậy. Tất cả đều như những cái máy tính được kết nối qua mạng internet sinh học toàn cầu. Người điều khiển máy tính này có thể xâm nhập và chiếm quyền điều khiển của cái máy khác. Những người chết sống trong thân ánh sáng, nhiều người có khả năng rất lớn trong việc xâm nhập và chiếm quyền điều khiển cơ thể của người khác. Tuy nhiên không phải ai họ cũng có thể chiếm quyền điều khiển được mà chỉ những người đồng ý cho họ làm điều đó, hoặc những người có sức mạnh tinh thần yếu thì mới dễ dàng bị họ chiếm quyền điều khiên cơ thể mình mà thôi.

Nhà Tâm linh, khi để cho mình vô thức tức là buông quyền điều khiển thân thể mình, khi đó những người chết dễ dàng sử dụng, điều khiển thân thể của họ để tác động vào thế giới vật chất thô này. Khi đó họ có thể vẽ, viết, nói,....thông qua thân thể của nhà Tâm linh.

6 -Bàn về linh hồn bất diệt

Trong bài viết “Giải thích các hiện tượng Tâm linh” tôi có đề cập tới vấn đề vè phần thân thể ánh sáng sẽ thoát ra sau khi ta chết và con người có thể tồn tại trong cái thân đó. Điều này dễ dẫn tới những hiểu nhầm phần thân thể ánh sáng này là “linh hồn bất diệt”. Thực ra không phải vậy. Nó cũng chỉ là vật chất mà thôi. Chức năng thì cũng giống như một cái máy tính điện tử không khác. Nó cũng là phần xác chứ không phải phần hồn gì cả.

Về mặt bản chất, thì phần thân thể ánh sáng này của mỗi người đều chỉ là những phần khác nhau của cùng một thực thế duy nhất đã, đang và sẽ tồn tại: bản thể vũ trụ (Vacuum – Ether). Nó không hề phân ly, tách rời và tồn tại độc lập với thực thể này.

Cái bất diệt chính là bản thể vũ trụ còn các biểu hiện của nó trong các vùng không gian khác nhau và thời gian khác nhau thì lại luôn luôn biến đổi. Thân thể ánh sáng cũng vậy, nó luôn luôn biến đổi và chẳng phải là những thực thể trường tồn. Nó cũng có khả năng bị tan hoại đi như xác thân vật chất thông thường.

Nếu nói đến linh hồn bất diệt thì chỉ có một: đó chính là bản thể vũ trụ. Sở dĩ tôi nói bản thể vũ trụ là linh hồn bất diệt bởi vì “vật chất bản thể” không phải là vật chất vô tri mà là vật chất có “Tánh linh”. “Tánh linh” của vật chất bản thể bao gồm hai thuộc tính là Tánh biết và Tánh Chủ động (Chủ tể sáng tạo). Tánh biết là cội nguồn của mọi nhận thức. Còn “Tánh chủ động” là cội nguồn của mọi sáng tạo.

“Tánh biết”, không phải là sự biết (sự nhận thức). Biết ở đây là không biết. Đây là một vấn đề khó hiểu cho nên việc giải thích nó cho bạn đọc là cần thiết:

Để giải quyết vấn đề, chúng ta hãy xem xét một số ví dụ sau.

Ví dụ thứ nhất : chúng ta cầm lấy con dao và cắt đôi một quả lê. Vấn đề cần tìm hiểu ở đây là: cái gì cắt quả lê? Có phải là chúng ta không? Không phải là chúng ta trực tiếp cắt quả lê. Ở đây trực tiếp cắt quả lê là con dao, chứ không phải là chúng ta. Nhưng nếu không có chúng ta, là người chủ động phía sau, thì con dao cũng không tự nó chủ động cắt quả lê được. Cũng vậy, biết cảnh vật là do sự nhận biết trực tiếp biết, chứ Tánh biết thì không trực tiếp biết được. Nhưng phải có Tánh biết ở phía sau, thì sự nhận biết mới có thể xuất hiện, chứ nó không tự có.

Ví dụ thứ hai : Quan sát một cái bóng đèn nê ông. Nó được phủ một lớp phát quang, và bên trong có khí nê - ông. Khi khí nê - ông được đốt nóng lên, nó sẽ kích thích vào lớp phát quang, làm cho đèn sáng lên. Vấn đề chúng ta cần tìm hiểu ở đây là: cái gì làm cho đèn sáng lên, lớp phát quang hay khí nê - ông nóng? Không phải là khí nê - ông nóng, vì nếu có khí nê - ông nóng, mà không có lớp phát quang, thì đèn sẽ không sáng. Cái trực tiếp làm đèn sáng lên, chính là lớp phát quang, chứ không phải khí nê - ông nóng. Nhưng nếu chỉ có lớp phát quang thôi, mà không có khí nê - ông nóng phía sau, thì đèn cũng không sáng lên được. Cũng vậy, biết cảnh vật là do sự nhận biết trực tiếp biết, chứ Tánh biết thì không trực tiếp biết được. Nhưng phải có Tánh biết ở phía sau, thì sự nhận biết mới có thể xuất hiện, chứ nó không tự có.

Ví dụ thứ ba: Trong đêm tối, chúng ta lấy một cái đèn pin, và chiếu sáng lên bầu trời (hư không), ta sẽ thấy một vệt sáng, đó là do các hạt bụi trong không khí bị sáng lên tạo ra. Nếu xét trong điều kiện lý tưởng là không có một hạt bụi nào, thì vệt sáng đó sẽ biến mất, và bầu trời vẫn tối thui (nếu khó hình dung, bạn đọc có thể lấy một cái đèn laze Trung quốc thay cho cái đèn pin cũng được).

Như vậy ở đây, dù được cái đèn pin chiếu sáng, mà vùng bị chiếu sáng vẫn tối thui, không sáng lên, giống như vùng không được chiếu sáng. Nhưng trong vùng được chiếu sáng đó, có một tánh chất đặc biệt, khác hẳn với vùng không được chiếu sáng. Tánh chất đó là: khi có bất kỳ một vật nào, nằm trong vùng được chiếu sáng đó, nó sẽ được sáng lên. Chúng ta gọi tánh chất đó là Tánh sáng. Ở chỗ nào có Tánh sáng, thì sẽ có sự sáng lên của vật, khi nằm ở trong đó. Ngược lại, ở chỗ nào không có Tánh sáng, thì sẽ không có sự sáng lên của vật, khi nằm ở trong đó. Nhờ Tánh sáng, mà sự sáng được hiện ra. Khi sự sáng xuất hiện, thì hình ảnh của vật cũng được xuất hiện. Sự sáng và hình ảnh của vật, không phải là hai cái tách rời nhau, mà thực chất chúng chỉ là hai mặt, của cùng một vấn đề. Chúng ta thấy là thấy hình ảnh và sự sáng, chứ không thấy được Tánh sáng.

Cũng tương tự như vậy, Tánh biết cũng giống như là Tánh sáng, còn sự nhận biết giống như là sự sáng. Ở chỗ nào có Tánh biết, thì sẽ có sự nhận biết khởi lên khi có đủ điều kiện. Ngược lại, ở chỗ nào không có Tánh biết, thì sẽ không có sự nhận biết khởi lên. Nhờ Tánh biết, mà sự nhận biết được sanh khởi. Khi sự nhận biết được sanh khởi, thì cảnh vật cũng được xuất hiện. Sự nhận biết và cảnh vật, không phải là hai cái tách rời nhau, mà thực chất chúng chỉ là hai mặt, của cùng một vấn đề. Chúng ta thấy, là thấy cảnh vật, và biết được sự nhận biết, chứ không phải thấy được Tánh biết.

Ta gọi nó là Tánh biết vì nhờ có nó thì sự nhận biết mới có thể phát sinh. Nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ. Điều kiện cần và đủ để có sự nhận thức xuất hiện là phải có vật chất có tánh biết và có cấu trúc phù hợp với sự xuất hiện của các cấp độ nhận thức khác nhau. Nhưng nhờ biết được sự nhận biết mà biết có Tánh biết.

“Tánh chủ động”: không phải là sự chủ động (tự do sáng tạo). Mối quan hệ giữa Tánh chủ động với sự chủ động cũng tương tự như mối quan hệ giữa Tánh biết với sự nhận biết. Ở chỗ nào có Tánh chủ động, thì sẽ có sự chủ động khởi lên khi có đủ điều kiện. Ngược lại, ở chỗ nào không có Tánh chủ động, thì sẽ không có sự chủ động khởi lên. Nhờ Tánh chủ động, mà sự chủ động được sanh khởi. Khi sự chủ động được sanh khởi, thì nó sẽ tác động vào cảnh vật. Chúng ta thấy, là thấy cảnh vật, và biết được sự chủ động, chứ không phải thấy được Tánh chủ động. Nhưng nhờ biết được sự chủ động mà biết có Tánh chủ động.

Phần thân thể ánh sáng và phần thân thể vật chất chính là điều kiện bổ sung hết sức cần thiết cho Tánh biết và Tánh chủ động để làm cho sự nhận biết và sự chủ động có thể sanh khởi.

Tóm lại Linh hồn bất diệt chính là Bản thể Vũ trụ có Tánh linh. Nhưng nó chỉ có thể thực hiện các khả năng đó của mình khi có đủ điều kiện tối thiểu là phải có một cái thân thể ánh sáng. Thân thể ánh sáng như một cái công cụ thông qua đó bản thể phát huy các tác dụng tinh thần của mình. Còn nếu không có thân thể ánh sáng thì Bản thể Vũ trụ có cũng như không. Nó không thể thực hiện các chức năng Tánh linh của mình.

KẾT LUẬN :

Những hiện tượng ngọai cảm thì còn nhiều, nhưng do thời gian có hạn và cũng đã giải thích xong những hiên tượng căn bản rồi cho nên tôi xin dừng bài viết của mình tại đây. Hy vọng sẽ có dịp cống hiến cho quý độc giả những bài viết phân tích chi tiết hơn. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp, phản biện của quý độc giả gần xa.

Nguyễn Đức Quý
Tel: 0955496303
Email: vaa_quy@yahoo.com

[1] Do cần phải tập trung vào nội dung chính là giải thích các hiện tượng Tâm linh, nên ở đây tôi chỉ trình bày vắn tắt những nét chính trong quan niệm của tôi về cấu trúc cơ thể con người. Bạn đọc nào muốn quan tâm tìm hiểu nhiều hơn về vấn đề này xin đọc bài: “Lý thuyết về cấu trúc cơ thể con người” của tôi.
[2] Về vấn đề này, nếu bạn đọc nào muốn tìm hiểu kỹ hơn, xin đọc bài “Sự tồn tại của chất “ÊTE” và ý nghĩa triết học của nó; và bài “Về trường thống nhất và Vật chất nguyên thủy”, trong cuốn sách “Tìm hiểu ý nghĩa câu “Bổn lai vô nhất vật” trong bài kệ của Lục tổ Huệ Năng” của tôi.
[3] Trích: “Thuyết tương đối cho mọi người”, tác giả: Tác giả: Martin Gardner, Dịch giả: Đàm Xuân Tảo, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, năm 2002.
[4] Để hiểu rõ hơn về vấn đề về thế giới biểu kiến này, mời các bạn đọc hai bài viết có liên quan là bài viết “Thế giới biểu kiến trong mỗi con người” và bài viết: “Tìm hiểu cơ chế phản ánh thế giới khách quan vào trong tâm thức chủ quan của con người.” của tôi có trong cuốn kỷ yếu này.
[5] Mời bạn tìm hiểu thêm về vấn đề này trong bài viết: “Tìm hiểu cơ chế phản ánh thế giới khách quan vào trong tâm thức chủ quan của con người.” của tôi có trong cuốn kỷ yếu này.
[6] Các bạn có thể tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này trong bài “Bàn về linh hồn bất diệt” của tôi.

TTđTD - Theo: http://www.totha.vn/index.php

Không có nhận xét nào: